Ngũ tích tán – Bài thuốc chữa cảm mạo. đau bụng kinh, bụng đau đầy căng

Published on Author Đỗ Sang

Ngũ tích tán là bài thuốc dùng chữa nội thương sinh lạnh, ngoại cảm hàn thấp, đầu đau người đau, rất sợ lạnh, sốt vừa phải, bụng đau đầy căng, nôn mửa, đau bụng kinh…

Công dụng:

Ôn trung tán hàn, phát biểu, tiêu tích.

Chữa chứng bệnh:

Bài thuốc chữa chứng biểu lý đều hàn.

Biểu hiện bệnh:

Nội thương sinh lạnh, ngoại cảm hàn thấp, đầu đau người đau, rất sợ lạnh, sốt vừa phải, bụng đau đầy căng, nôn mửa, không muốn ăn uống và phụ nữ đau bụng kinh.

Thành phần:

Bài thuốc ngũ tích tán gồm có:

  1. Bạch chỉ 3 lạng.
  2. Xuyên khung 3 lạng.
  3. Cam thảo 3 lạng (chích).
  4. Phục linh 3 lạng.
  5. Đương quy 3 lạng.
  6. Nhục quế 3 lạng.
  7. Thược dược(bạch thược) 3 lạng.
  8. Bán hạ 3 lạng.
  9. Trần bì 6 lạng.
  10. Chỉ xác 6 lạng.
  11. Ma hoàng 6 lạng.
  12. Kiết cánh(cát cánh) 12 lạng.
  13. Hậu phác 4 lạng.
  14. Thương truật 24 lạng.
  15. Can khương 4 lạng.
Một số vị thuốc trong bài ngũ tích tán
Một số vị thuốc trong bài ngũ tích tán

Cách sử dụng:

Liều lượng nói trên theo liều thuốc tán, mỗi lần đùng 12 gam, gừng tươi 3 lát đun sắc lấy nước uống. Ngày nay chuyển thành thuốc thang. Liều lượng đổi ít, đun sắc chia 2 lần uống.

Phân tích bài thuốc:

Bài ngũ tích tán này có thể tiêu ngũ tích gồm tích hàn, thực, khí, huyết, đàm nên gọi là Ngũ tích tán.

Trong bài Ma hoàng, Bạch chỉ phát hãn giải biểu.

Can khương, Nhục quế ôn trung tán hàn, do tích hàn mà dùng vị này.

Chỉ xác, Hậu phác tiêu bĩ trừ mãn do thực tích mà dùng vị này.

Hậu phác Trần bì hành khí.

Kiết cánh và Chỉ xác một thăng một giáng có lợi cho cơ bắp co duỗi, do khí tích (trệ) mà dùng vị này.

Đương quy, Xuyên khung, Thược dược (Xích thược) hoạt huyết hóa ứ do huyết tích (ứ) mà dùng vị này.

Thương truật, Hậu phác táo thấp vận tỳ.

Bán hạ, Trần bì, Phục linh lý khí hóa đàm do đàm tích (tụ) mà dùng vị này.

Cam thảo hòa trung hợp lại thành bài thuốc ôn trung tán hàn, biểu lý song giải, khí huyết cùng trị đàm thực cùng tiêu.

Bài thuốc tương tự:

Khi điều trị cụ thể không nhất thiết dùng tất cả các vị theo chứng bệnh mà gia giảm, nếu biểu hàn nặng có thể lấy Nhục quế thay Quế chi, biểu chứng không rõ rệt có thể bỏ Ma hoàng, Bạch chỉ, lý hàn nặng gia Ngô thù du, âm hư tự hãn có thể giảm bớt thuốc phát biểu mà gia Phụ tử, thương thực thì gia Sơn tra, Mạch nha, Lục khúc, nếu đau bụng kinh có thể bỏ thuốc phát biểu mà gia Hương phụ chế, Diên hồ sách.