Mỡ máu, gan nhiễm mỡ trong đông y – Đàm thấp nội trở, thấp nhiệt…

Published on Author Đỗ Sang

Mỡ máu, gan nhiễm mỡ trong đông y phần nhiều do ăn nhiều chất béo và ngọt gây tổn hại đến tỳ vị, vận hóa thất điều…mà phát sinh bệnh.

Bệnh mỡ máu, gan nhiễm mỡ trong đông y:

Chứng mỡ máu (Lipit huyết cao, Cholesterol trong máu cao), gan nhiễm mỡ… tuy tên gọi khác nhau, về cơ chế gây bệnh theo tây y có khác nhau nhưng đối với y học cổ truyền thì nguyên nhân và cách điều trị giống nhau. Chứng trạng của bệnh này nằm rải rác trong các bệnh Đờm Ẩm, Huyễn Vựng, Đầu Thống, Hung Tý, Ma Mộc . .của Đông y.

Đông Y xếp vào loại Trọc Trở, Đờm Thấp, Thấp Nhiệt, Huyết ứ, can uất…

Tiêu chuẩn chẩn đoán thể bệnh theo đông y:

Triệu chứng của bản hư

  • Âm hư (thận âm hư là chính): đầu choáng, ù tai, đau đầu, chi tê, miệng ráo họng khô, thất miên đa mị, ngũ tâm phiền nhiệt, lưng gối đau mỏi, gầy vàng tiện khô, lưỡi hồng ít rêu, mạch tế sác.
  • Dương hư (thận dương hư là chủ): đau lưng mệt mỏi, sợ lạnh, chi lạnh, tinh thần bất thư, sắc mặt trắng nhợt, mắt và mặt da bủng, hư phù, đại tiện lỏng nát, lưỡi nhợt bệu, rêu trắng hoạt, mạch trầm nhược.

Triệu chứng âm – dương lưỡng hư (Thận âm, thận dương hư là chính).

Triệu chứng của tiêu thực

  • Đàm trọc, béo phệ, huyền vậng, đầu nặng như đè, tâm quí, ngực tâm khí bĩ, đau âm ỉ trước tim, chi tê nặng, rêu hoạt nhờn, mạch huyền hoạt.

Huyết ứ: (theo tiêu chuẩn Quốc tế – Bắc Kinh – 10 /1988).

  • Chất lưỡi ám tía hoặc ban điểm ứ huyết.
  • Mạch sáp hoặc vô mạch.
  • Đau có vị trí nhất định (đau lâu, thiện hoặc cự án).
  • Bụng huyết ứ, tụ tích.
  • Ly kinh chỉ huyết (xuất huyết hoặc ngoại thương huyết ứ).
  • Ban ứ ở niêm mạc, da.
  • Mạch lạc dị thường.
  • Thống kinh, bế kinh, máu đen thẫm.
  • Cơ, da khô sáp.
  • Tê mỏi nửa thân.
  • Huyết ứ, đại tiện táo.
  • Xét nghiệm: soi vi tuần hoàn có ứ trệ tuần hoàn huyết dịch.
  • Đàm trọc hiệp huyết ứ. Kết hợp vừa có đàm trọc vừa có huyết ứ.

Nguyên nhân cơ chế bệnh sinh:

Theo quan niệm trong đông y thì nguyên nhân của bệnh lý tăng mỡ máu chủ yếu phụ thuộc các yếu tố sau đây:

  • Nhân tố thể chất: Là yếu tố bản tạng hoặc trạng thái thiên thắng hoặc thiên suy của vận hoá và chuyển hoá tạng phủ.
  • Ẩm thực thất tiết. Phần nhiều do ăn nhiều chất béo và ngọt gây tổn hại đến tỳ vị, vận hóa thất điều, đàm trọc nội sinh, đàm trọc hóa mà phát sinh bệnh.
  • Tinh thần, thần chí thất thường. Tinh thần kích thích hoặc biến đổi tính chí mà dẫn đến tư lự thương tỳ, nội tắc thương can, mộc vượng khắc thổ cũng thương tổn đến tỳ vị; tỳ thất kiện vận, thấp trọc xâm phạm mạch đạo mà phát bệnh; tinh thần kinh căng thẳng kết hợp. Điều quan trọng là cơ quan tạng phủ bị rối loạn về chức năng, công năng của 3 tạng ( tỳ, thận, can), trong đó tỳ, thận hư tổn là chủ yếu. Tỳ khí hư nhược, kiện vận thất điều, ẩm thực không thể hóa thành chất tinh vi ứ thành đàm trọc mà phát bệnh; hoặc do tuổi già thận suy, khí bất hóa tân, đàm trọc tích tụ ở trong dẫn đến tâm huyết ứ trở, mạch lạc kết trệ hoặc do can thận âm hư, hư hỏa thượng viêm, thiêu dịch thành đàm, đàm trọc nội trở mà phát bệnh.

Tóm lại: Y học cổ truyền cho rằng bản chất bệnh là “Bản hư tiêu thực”:

“Tiêu”: phần nhiều biểu hiện đàm trọc huyết ứ.

“Bản”: công năng tạng phủ thất điều hoặc hư tổn chủ yếu do tỳ, thận hư tổn.

Béo phì là nguyên nhân hàng đầu của bệnh mỡ máu
Béo phì là nguyên nhân hàng đầu của bệnh mỡ máu

Phương hướng điều trị:

Trước tiên là khống chế chế độ ăn và luyện tập thể dục thích hợp.

Khi cần thiết sẽ dùng thuốc, thuốc tân dược có hiệu quả giảm mỡ máu nhanh. Tuy nhiên còn nhiều tác dụng phụ, thậm chí có những biến chứng: buồn nôn, rối loạn tiêu hoá, ảnh hưởng chức năng gan, thận.

Khi chẩn trị phải căn cứ vào biểu hiện khác nhau mà biện chứng dụng dược, vừa chú ý hạ thấp mỡ máu, vừa điều trị tích cực trạng thái bệnh mạch vành, mạch máu não. Đối với tăng mỡ máu thứ phát phải chữa vào nguyên nhân.

Bản chất và cơ chế bệnh đa phần thuộc “ bản hư tiêu thực”. Vì vậy trong điều trị phải kết hợp “tiêu – bản” kiêm trị, đó là nguyên tắc cơ bản. Trên lâm sàng phải căn cứ vào triệu chứng hoãn hay cấp để chọn phù chính là chủ (phù chính trước trừ tà sau, ngược lại trừ tà trước phù chính sau) hoặc tiêu bản đồng trị.

Bản hư đa phần thuộc tỳ thận hư tổn.

Tiêu thực đa phần là đàm trọc, huyết ứ.

Trị bản chủ yếu là pháp ích thận bổ tỳ.

Trị tiêu chủ yếu là khứ đàm trừ thấp, thanh lý thông hạ, hoạt huyết hóa ứ.

Ngoài ra, cần phải phối hợp chế độ ăn uống và vận động liệu pháp, khí công liệu pháp và dùng dưỡng sinh phòng bệnh.

Phương pháp điều trị của một số chứng bệnh cụ thể:

Đàm thấp nội trở:

  • Hình thể béo phệ, hay ăn các chất bổ, ngọt, béo; đầu nặng căng chướng; bụng ngực bĩ tức, buồn nôn hoặc nôn khan, miệng khô không khát, tứ chi gầy gò, chi thể nặng nề ma mộc (tê mỏi), bụng chướng, rêu lưỡi nhuận nhờn; mạch huyền hoạt.
  • Phương pháp điều trị: kiện tỳ hóa đàm trừ thấp.
  • Thường dùng “nhị trần thang” gia vị.
  • Châm cứu: nội quan, phong long, trung quản, giải khê.

Đàm nhiệt phủ thực:

  • Hình thể tráng thực, đại tiện bí kết, ngực tâm phúc chướng, đầu căng chướng, thường cảm thấy đau giật, tính tình cáu gắt, miệng đắng tâm phiền, mặt hồng, mắt đỏ, rêu lưỡi vàng nhờn, chất lưỡi hồng, mạch huyền hoạt có lực.
  • Phương pháp điều trị: thanh nhiệt, hóa đàm , thông phủ.
  • Thuốc: hợp phương “tiểu hãm hung thang” và “tăng dịch thừa khí thang” gia vị.
  • Châm cứu: Phế du, xích trạch, phong long, đại trường du, hợp cốc, khúc trì.

Tỳ thận dương hư:

  • Lưng gối mỏi mệt, chi lạnh sợ hàn, tinh thần bất thư, mặt phù chi nặng, tứ chi thiểu lực, đại tiện lỏng nát, đái đêm nhiều, lưỡi bệu nhợt, rìa lưỡi có hằn răng, rêu lưỡi trắng dày, mạch trầm trì.
  • Thuốc: Ôn tỳ bổ thận.
  • Thường dùng “phụ tử lý trung thang” gia giảm.
  • Châm: tỳ du, trung quản, chương môn, thần khuyết, túc tam lý, mệnh môn, quan nguyên.

Can thận âm hư:

  • Lưng gối đau mỏi, ngũ tâm phiền nhiệt, hình gầy, hay mệt, đầu choáng tai ù, tư hãn, miệng khô, họng ráo, lưỡi đỏ, ít rêu, mạch tế sác.
  • Thuốc: tư dưỡng can thận.
  • Phương thuốc: “kỷ cúc địa hoàng hoàn” gia vị.
  • Châm cứu: can du, thận du, huyền chung, dương lăng tuyền.

Đàm ứ giao trở:

  • Tâm hung trung đông thống hữu hình thể béo, chi thể trầm nặng, tê mỏi; chất lưỡi tía xám hoặc có điểm ứ, ban ứ, rêu nhờn; mạch huyền hoạt hoặc mạch sáp.
  • Phương pháp điều trị: kiện tỳ hóa đàm – hoạt huyết khư ứ.
  • Thuốc: “qua lâu giới bạch bán hạ thang” hợp phương “đào hồng tứ vật thang” gia vị.
  • Châm cứu: trung quản, phong long, huyết hải, hành gian.

Can uất tỳ hư:

  • Đau 2 mạng sườn, đau không cố định, mệt mỏi, ăn kém, tinh thần bất định, đại tiện lỏng nát, kinh nguyệt không đều, quanh vú chướng đau, rêu lưỡi mỏng nhờn, mạch huyền.
  • Điều trị: sơ can giải uất- kiện tỳ dưỡng huyết.
  • Thuốc: “tiêu giao tán” gia vị.
  • Châm cứu: can du, tỳ du, chương môn, trung quản, thiên khu, túc tam lý.

Một số bài thuốc cụ thể:

Bài thuốc điều trị mỡ máu trong đông y.

Theo dieutri.vn