Bệnh Parkinson là gì? – Nguyên nhân, triệu chứng và cách điều trị

Published on Author Đỗ Sang

Bệnh Parkinson là một rối loạn của hệ thần kinh trung ương làm suy yếu khả năng vận động, lời nói và các chức năng khác. Bệnh có đặc điểm cứng cơ…

Bệnh Parkinson là gì?

Bệnh Parkinson là một rối loạn của hệ thần kinh trung ương làm suy yếu khả năng vận động, lời nói và các chức năng khác. Bệnh có đặc điểm cứng cơ, run, tư thế và dáng đi bất thường, chuyển động chậm chạp và trong trường hợp bệnh nặng người bệnh có thể mất đi một số chức năng vận động.

Bệnh xuất hiện khi có một số tế bào thần kinh nằm ở một phần của não (gọi là chất đen) bị chết hoặc bị mất khả năng hoạt động. Thông thường, những tế bào này sản sinh ra một chất, gọi là dopamin. Chất dopamin này làm cho các cơ bắp của cơ thể hoạt động phối hợp với nhau trơn tru nhịp nhàng. Nếu như khoảng 80% tế bào thần kinh sản sinh ra dopamin bị hỏng, thì sẽ xuất hiện các triệu chứng của bệnh Parkinson.

Thông thường, bệnh Parkinson tấn công ở người lứa tuổi từ 50 trở lên nhưng hiện căn bệnh này cũng đang trẻ hóa. Parkinson là một trong những bệnh liên quan đến cử động của cơ thể phổ biến nhất, gặp trong khoảng 1% người trên 60 tuổi, nam bị nhiều hơn nữ gấp 1,5 lần, và càng ngày càng xuất hiện nhiều.

Độ tuổi khởi bệnh trung bình vào khoảng 60 tuổi. Tuy nhiên ngày càng có nhiều bệnh nhân mắc bệnh khi mới 30-40 tuổi. Đây là một bệnh tương đối phổ biến với tỷ lệ mắc là 90-100/100.000 dân.

Nguyên nhân gây bệnh:

Các triệu chứng của bệnh Parkinson là hậu quả của thiếu hụt một chất dẫn truyền thần kinh là dopamin trong não. Điều này xảy ra khi các tế bào não đặc hiệu sản sinh dopamin bị chết hoặc suy giảm chức năng. Chưa rõ nguyên nhân của hiện tượng này. Người ta cho rằng các đột biến di truyền hoặc độc chất trong môi trường đóng vai trò trong căn bệnh này.

Triệu chứng bệnh:

Các triệu chứng thường gặp: Cơ bắp cứng, chuyển động chậm, di chuyển khó khăn, rung, lắc tay, mất kỹ năng vận động, té ngã thường xuyên, gương mặt thiếu biểu cảm, giọng nói run rẩy, suy giảm trí tuệ, táo bón…Cụ thể:

  • Run. Thường bắt đầu ở một bên bàn tay. Tuy nhiên nhiều bệnh nhân không bị run rõ rệt.
  • Cử động chậm chạp. Bệnh làm giảm khả năng bắt đầu các cử động tự ý, dần dần khiến cho ngay cả những cử động đơn giản cũng trở nên khó khăn và mất nhiều thời gian.
  • Cứng cơ. Thường xảy ra ở chi và ở cổ. Cứng cơ làm giảm tầm vận động và gây đau.
  • Biến dạng và mất thăng bằng. Trong giai đoạn muộn, bệnh nhân có thể bị gù vẹo và không giữ được thăng bằng.
  • Mất các động tác tự động như chớp mắt, cười và vung tay khi đi. Bệnh nhân có nét mặt cứng đờ, mắt không chớp và mất khả năng diễn tả bằng điệu bộ.
  • Thay đổi giọng nói. Giọng nói trở nên yếu ớt, nhanh hoặc đơn sắc, nói líu nhíu, lặp lại từ hoặc ngập ngừng trước khi nói.
  • Sa sút trí tuệ. Trong giai đoạn muộn, một số bệnh nhân bị giảm sút trí nhớ và tâm thần.
Bệnh nhân parkinson thường cử động và đi lại rất khó khăn
Bệnh nhân parkinson thường cử động và đi lại rất khó khăn

Các xét nghiệm và chẩn đoán bệnh:

Do nhiều nguyên nhân có thể gây ra các triệu chứng giống bệnh Parkinson, nên bệnh rất khó chẩn đoán, nhất là trong giai đoạn sớm. Hiện chưa có xét nghiệm nào chẩn đoán xác định căn bệnh này

Nhưng có thể  thực hiện một số xét nghiệm để loại trừ các bệnh khác như xét nghiệm máu, chụp cắt lớp vi tính (CT Scan), chụp cộng hưởng từ (MRI) và chụp cắt lớp phát xạ positron (PET scan).

Chẩn đoán bệnh thường dựa vào tiền sử và khám thần kinh, bao gồm đánh giá khả năng đi bộ, phối hợp động tác cũng như thực hiện một số nhiệm vụ đơn giản bằng tay. Chẩn đoán sơ bộ thường được đặt ra nếu bệnh nhân có:

  • Ít nhất 2 đến 3 triệu chứng chính là run, chậm cử động và cứng cơ
  • Triệu chứng chỉ khởi phát ở một bên cơ thể
  • Run thấy rõ hơn khi nghỉ ngơi
  • Đáp ứng tốt với  thuốc levodopa

Cách điều trị:

Không có phương pháp đặc hiệu.

Thuốc chỉ có thể làm giảm hoặc cải thiện các triệu chứng. Các loại thuốc thường được sử dụng nhất là carbidopa / levodopa (Sinemet). Các thuốc này làm giảm run, giảm cứng đờ và chậm chạp do bệnh Parkinson gây ra. Gần đây, người ta còn nghiên cứu một số thuốc mới nhằm làm chậm quá trình bệnh lại. Việc dùng thuốc không chữa tiệt căn được bệnh, nhưng giúp cải thiện chất lượng cuộc sống rất nhiều, nhiều người bệnh có thể duy trì cuộc sống và công việc gần bình thường nhờ thuốc.

Một số trường hợp được điều trị kích thích não bằng phẫu thuật cấy ghép.

Kích thích não sâu là thủ thật phổ biến nhất để điều trị bệnh. Thủ thuật này bao gồm cấy một điện cực vào sâu trong vùng não chi phối vận động. Điện cực được nối với một thiết bị cấy ngoài da sẽ điều chỉnh lượng kích thích phát ra.

Thủ thuật thường được chỉ định cho bệnh nhân bị bệnh giai đoạn muộn có đáp ứng không ổn định với thuốc (levodopa). Kích thích não sâu không có hiệu quả với bệnh nhân không đáp ứng với carbidopa-levodopa.

Cách phòng ngừa:

Vì nguyên nhân của bệnh Parkinson không rõ, cách dứt khoát để ngăn chặn bệnh cũng vẫn là một bí ẩn. Tuy nhiên, một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng caffeine – được tìm thấy trong trà, cà phê, cola có thể làm giảm nguy cơ phát triển bệnh Parkinson.