Bệnh quai bị – Nguyên nhân, triệu chứng và cách điều trị

Published on Author Đỗ Sang

Bệnh quai bị là một bệnh truyền nhiễm cấp tính, lây trực tiếp bằng đường hô hấp…Triệu chứng bắt đầu với sốt, nhức đầu, đau nhức cơ bắp…

Bệnh quai bị là gì?

Bệnh quai bị (còn được gọi là bệnh viêm tuyến mang tai dịch tễ hay viêm tuyến mang tai do virut quai bị) là một bệnh truyền nhiễm cấp tính, lây trực tiếp bằng đường hô hấp, hay gây thành dịch trong trẻ em, thanh thiếu niên do virut quai bị gây nên. Biểu hiện lâm sàng phổ biến nhất là viêm tuyến nước bọt mang tai không hoá mủ. Các tuyến nước bọt khác, tinh hoàn, tuỵ và hệ thần kinh trung ương cũng có thể bị tổn thương.

Nguyên nhân gây bệnh:

Nguồn lây bệnh quai bị là người đang mắc bệnh quai bị lây cho người lành chưa có kháng thể chống vi-rút quai bị. Bệnh quai bị khởi đầu là viêm tuyến nước bọt (tuyến mang tai).

Các nguyên nhân gây viêm tuyến mang tai hiếm gặp khác có thể kể: do ăn nhiều tinh bột, phản ứng thuốc (phenylbutazone, thiouracil, các thuốc chứa iốt) và các rối loạn chuyển hóa (như bệnh đái tháo đường, xơ gan và suy dinh dưỡng). Ít khi bị quai bị lần hai.

Triệu chứng bệnh:

Triệu chứng bắt đầu với sốt, nhức đầu, đau nhức cơ bắp,2-3 ngày sau có đau mặt, sưng tuyến mang tai, sưng thái dương, hàm.

Triệu chứng của bệnh quai bị: sưng tuyến mang tai, sưng thái dương, hàm.
Triệu chứng của bệnh quai bị: sưng tuyến mang tai, sưng thái dương, hàm.

Các xét nghiệm và chẩn đoán bệnh:

Hỏi bệnh sử và khám thực thể. Các triệu chứng sốt và sưng tuyến mang tai ở trẻ em là cơ sở để chẩn đoán. Có thể thực hiện phản ứng chuỗi trùng phân (PCR) nhưng không thật cần thiết.Kiểm tra bổ sung có thể được yêu cầu.

Cách điều trị:

Không có điều trị đặc hiệu cho bệnh quai bị. Mục đích điều trị là giảm triệu chứng, điều trị có thể bao gồm: dùng túi chườm nóng hoặc chườm đá, thuốc giảm đau và giảm sốt acetaminophen (Tylenol). Không nên dùng Aspirin cho trẻ em vì nguy cơ mắc hội chứng Reye.

  • Ðối với thể bệnh viêm tuyến nước bọt đơn thuần, cần vệ sinh họng, miệng, đánh răng sau khi ăn, trước và sau khi ngủ dậy. Có thể súc họng, miệng bằng các dung dịch sát khuẩn nhẹ có bán tại các quầy dược phẩm như axit boric 5%, nước muối sinh lý và một số dung dịch sát khuẩn khác. Dùng thuốc hạ nhiệt, giảm đau, thuốc chống viêm và dùng thêm sinh tố. Ngoài ra, người bệnh cần uống nhiều nước vì sốt làm mất nước, mất chất điện giải. Cần nghỉ ngơi tại giường, tránh tiếp xúc với những người có nguy cơ cao mắc bệnh quai bị như lứa tuổi thanh thiếu niên tối thiểu 10 ngày. Người bệnh rất cần đeo khẩu trang để tránh lây cho người khác.
  • Ðối với thể bệnh có viêm tinh hoàn, cần nghỉ ngơi tại giường khi tinh hoàn vẫn còn sưng, đau. Cần mặc quần lót để treo nhẹ tinh hoàn lên. Ðối với thể bệnh có viêm tinh hoàn (nam giới) hoặc buồng trứng (nữ giới), rất cần có ý kiến tư vấn của bác sĩ, tốt nhất là bác sĩ chuyên khoa.
  • Những bệnh viêm tụy, viêm não, màng não rất cần vào bệnh viện để được khám và theo dõi một cách chặt chẽ. Mặc dù hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu cho bệnh quai bị – đó là một thách thức lớn cho các thầy thuốc lâm sàng – nhưng các thuốc dùng trong mục đích điều trị hỗ trợ cũng không nên coi thường.

Cách phòng ngừa:

Vệ sinh cá nhân và nhà cửa:

  • Không sử dụng chung các dụng cụ ăn uống (muỗng, nĩa, ly, chén, dĩa v.v…)
  • Thường xuyên lau sạch sàn nhà, bàn ghế, rửa sạch các đồ chơi của trẻ.
  • Rửa tay nhiều lần bằng xà phòng trong ngày, nhất là sau khi đi vệ sinh và trước khi ăn.
  • Che miệng khi ho, khi hắt hơi, sau đó phải rửa tay ngay bằng xà phòng.

Thực hiện tiêm phòng vắc-xin để phòng bệnh chủ động.Lưu ý: Vì vắc-xin ngừa quai bị chứa virus sống, nên không tiêm ngừa quai bị khi:

  • Suy giảm miễn dịch nặng.
  • Bệnh ác tính toàn thân: bệnh bạch cầu, u lympho…
  • Đang điều trị corticoid toàn thân liều cao, thuốc chống chuyển hóa, độc tế bào, xạ trị chống ung thư.
  • Phụ nữ mang thai và nghi ngờ mang thai không được tiêm vắc-xin quai bị.
  • Những phụ nữ được tiêm vắc-xin quai bị cần áp dụng biện pháp ngừa thai trong thời gian ít nhất là 28 ngày sau khi tiêm.