Viêm loét đại tràng là gì? – Nguyên nhân, triệu chứng và cách điều trị

Published on Author Đỗ Sang

Viêm loét đại tràng là thuật ngữ để chỉ tình trạng loét và viêm lớp niêm mạc đại tràng gây ra triệu chứng đau bụng, tiêu chảy và chảy máu trực tràng.

Bệnh viêm loét đại tràng là gì?

Đại tràng là một phần của ống tiêu hoá, chứa phân. Trực tràng là phần cuối cùng của đại tràng, nối với phía dưới là hậu môn.

Viêm loét đại tràng là thuật ngữ để chỉ tình trạng loét và viêm lớp niêm mạc đại tràng gây ra triệu chứng đau bụng, tiêu chảy và chảy máu trực tràng.

Bệnh viêm loét đại tràng nếu không được điều trị sớm thì sẽ làm cho người bệnh mất máu gây thiếu máu, nặng hơn là trụy tim mạch, nếu có tiêu chảy, mất máu và sốt. Bệnh mãn tính có thể gây viêm, loét đại tràng bùng phát, nhiễm độc và có thể gây thủng đại tràng. Thủng đại tràng là một biến chứng cực kỳ nguy hiểm, vì có thể dẫn đến viêm phúc mạc, sốc nhiễm khuẩn và nguy cơ tử vong rất cao, nhất là người có tuổi.

Nguyên nhân gây bệnh:

Chưa ai biết chính xác nguyên nhân gây ra viêm đại tràng. Hiện nay người ta thường nghĩ tới một số yếu tố sau:

  • Miễn dịch: Một số nhà khoa học cho rằng đường tiêu hóa bị viêm khi phải chống lại sự xâm nhập của các vi sinh vật như vi khuẩn hay virus.
  • Di truyền. Có cha mẹ hoặc anh chị em ruột bị bệnh làm tăng nguy cơ mắc bệnh, điều này cho thấy di truyền có vai trò trong bệnh này.
  • Môi trường. Do viêm loét đại tràng hay xảy ra hơn ở người dân thành thị và ở các nước công nghiệp, nên có lẽ các yếu tố môi trường, như chế độ ăn nhiều chất béo hoặc nhiều thực phẩm tinh chế cũng đóng vai trò.
  • Kháng sinh. Điều trị kháng sinh có thể dẫn đến viêm đại tràng cấp hoặc viêm đại tràng giả mạc do kháng sinh phá vỡ sự cân bằng vi khuẩn bình thường trong ruột.
Một số nguyên nhân có thể gây viêm loét đại tràng
Một số nguyên nhân có thể gây viêm loét đại tràng

Triệu chứng bệnh:

Triệu chứng chung: Tiêu chảy, phân thường có máu và chất nhầy, đau bụng quặn, sốt, sụt cân, khó chịu ở hậu môn.

Dấu hiệu và triệu chứng của viêm loét đại tràng có thể khác nhau tuỳ thuộc vào mức độ nặng của viêm và nơi xảy ra.

  • Viêm loét trực tràng. Viêm khu trú ở trực tràng. Chảy máu trực tràng có thể là dấu hiệu duy nhất. Ngoài ra một số bệnh nhân có thể thấy đau ở vùng đại tràng, mót rặn hoặc không thể đi ngoài được mặc dù rất muốn.
  • Viêm đại tràng trái. viêm lan rộng từ trực tràng qua đại tràng sigma và đại tràng xuống. Các dấu hiệu và triệu chứng gồm đi ngoài ra máu, đau bụng và sút cân.
  • Viêm toàn bộ đại tràng, gây những đợt đi ngoài ra máu nặng, đau bụng, mệt mỏi, sút cân và ra mồ hôi trộm.
  • Viêm đại tràng tối cấp. Dạng viêm đại tràng nguy hiểm hiếm gặp này xảy ra ở toàn bộ đại tràng, gây đau, tiêu chảy dữ dội dẫn đến mất nước và sốc. Bệnh nhân có nguy cơ bị các biến chứng nặng như vỡ đại tràng và giãn đại tràng ngộ độc do đại tràng bị giãn quá mức.

Các xét nghiệm và chẩn đoán bệnh:

Hỏi bệnh sử và khám thực thể. Nội soi đại tràng. Xét nghiệm kiểm tra tốc độ lắng máu (ESR), xét nghiệm sinh hóa Protein phản ứng C (CRP). CT scan bụng để loại trừ biến chứng của viêm đại tràng. Các xét nghiệm bổ sung có thể được yêu cầu.

Xét nghiệm máu: phát hiện thiếu máu, nhiễm trùng và phát hiện kháng thể.

Soi đại tràng: là xét nghiệm chẩn đoán nhạy nhất, cho phép quan sát toàn bộ đại tràng và sinh thiết để lấy mẫu làm xét nghiệm mô học.

Soi đại tràng sigma ống mềm để kiểm tra đại tràng sigma.

Chụp X quang đại tràng có thuốc cản quang giúp quan sát hình ảnh khung đại tràng

Chụp X quang ruột non để kiểm tra phần ruột non không quan sát được bằng soi đại tràng. Xét nghiệm này có thể giúp ích trong phân biệt viêm loét đại tràng và bệnh Crohn.

Cách điều trị:

Mục tiêu của điều trị là làm giảm viêm, giúp làm giảm triệu chứng và chữa lành đại tràng.

 – Điều trị chống viêm: bao gồm các thuốc chống viêm như Sulfasalazine (Azulfidine), mesalamine (Asacol, Rowasa) và olsalazine (Dipentum), Balsalazide (Colazal), corticosteroid. Các thuốc ức chế miễn dịch như (Imuran) và mercaptopurine (Purinethol), cyclosporine (Neoral, Sandimmune), infliximab (Remicade), cao dán nicotin.

– Điều trị triệu chứng: gồm thuốc chống tiêu chảy, thuốc giảm đau và bổ sung sắt

– Phẫu thuật cắt toàn bộ đại trực tràng và làm hậu môn nhân tạo hoặc nối ruột non với hậu môn nếu điều trị nội khoa và các biện pháp điều trị khác không làm bệnh thuyên giảm. Từ 25 – 40% số bệnh nhân cuối cùng sẽ phải phẫu thuật.

Cách phòng ngừa:

Chế độ ăn uống và luyện tập có vai trò quan trọng trong việc phòng ngừa bệnh viêm loát đại tràng. Cần có chế độ ăn uống và luyện tập phù hợp để có một kế hoạch dự phòng cho bệnh này.

Nên ăn uống đúng giờ, tránh bỏ bữa. Không nên ăn các thức ăn lâu ngày, thức ăn ôi thiu.

Bên cạnh đó nên có một chế độ luyện tập thể dục để tăng cường sức khỏe, chống lại các bệnh tật.