MỘT SỐ MÓN ĂN – BÀI THUỐC – PHẦN 4 – CHỮA LỴ AMÍP

Published on Author Trần Văn Khắc
bia sen
  1. Cao vỏ lựu, mật ong
  • Chữa trị: Bệnh lỵ amíp (đau bụng từng cơn, đi đại tiện liên tục, phân trắng, hồng, ngực cồn cào, miệng khô, khát nước, rêu lưỡi vàng, mạch nhu)
  • Liều lượng: Vỏ lựu tươi 100g (khô là 50g), thải nhỏ. Sắc ký lấy nước (sắc 2 nước), bỏ bã, tiếp tục đun nhỏ lửa cô đặc nước vỏ lựu, sau đó cho vào 300ml mật ong, quấy đều. Để nguội, cho cao vào lọ dùng dần. Mỗi lần dùng 10ml với nước sôi. Mỗi ngày uống 3 lần.
  • Công hiệu: chữa lỵ amíp. Người mắc chứng viêm dạ dày mạn tính không được dùng bài này.
  1. Canh đậu xanh, rau dền
  • Chữa trị: Lỵ amíp thấp nhiệt (như trên).
  • Liều lượng: Rau dền phải tươi 120g, đậu xanh 60g; cho vào nước sắc lấy 500ml nước. Mỗi ngày uống 2 lần.
  • Công hiệu: Thanh nhiệt, giải độc, diệt khuẩn, trừ lị. Chữa viêm mật cũng có hiệu quả. Những người đi ngoài di thấp, hàn không được uống.
  1. Nước chè xanh pha giấm
  • Chữa lỵ a míp do thấp, nhiệt.
  • Liều lượng: Chè xanh 100g, cho nước vào sắc lấy 300ml, mỗi lần uống 100ml pha với 100ml giấm chua. Uống lúc còn nóng. Mỗi ngày uống 3 lần.
  • Công hiệu: Thanh nhiệt, giải độc, bệnh lý có phần trắng (bệnh lỵ trắng) thì uống với nước gừng, bệnh lỵ có máu (xích lị) thì uống với nước cam thảo. Mỗi ngày uống 3 lần, đến khi khỏi bệnh, uống tiếp 3 lần nữa mới thôi.
    • Những người mắc bệnh lỵ kéo dài hư hàn không được dùng. Những người có chứng mất ngủ, buổi chiều không nên uống.
  1. Rau dền dại và pha đường.
  • Chữa trị: Lỵ amíp thấp nhiệt.
  • Liều lượng: Rau dền tươi (cả cây) 500g, rửa sạch, lấy nước pha ít đường trắng mỗi lần uống 200ml, mỗi ngày uống 3 lần.
  • Công hiệu: Thanh nhiệt, giải độc, diệt khuẩn, tiêu viêm, cầm máu, khỏi đi lị: chữa chứng lỵ amíp do vi khuẩn cũng có hiệu quả.
    • Những người đi tả hư hàn không được dùng.
  1. Cháo rau dền tía, gạo tẻ.
    chaso rau rền
  • Chữa trị: bệnh lỵ amíp do thấp nhiệt
  • Liều lượng: rau dền tía tươi 100g, bỏ rễ, rửa sạch, thái nhỏ, cho vào 100g gạo tẻ, nấu thành cháo. Mỗi ngày ăn 2 lần vào buổi sáng và chiều. Lỵ trắng dùng rau dền trắng, lỵ đỏ rau dền đỏ. Qua thực nghiệm lâm sàng có hiệu quả rõ rệt. Người già viêm ruốt mắc chứng lỵ a míp cấp cũng dùng bài thuốc này có hiệu nghiệm.
  • Người đi tiêu chảy tì vị hư hàn không được dùng bài thuốc này.
  1. Rau dền, ngó sen.
  • Chữa trị: bệnh lỵ amíp.
  • Liều lượng: Rau dền tươi, ngó sen tươi mỗi thứ 500g, giã nát, vắt lấy nước, pha thêm với ít đường trắng. Mỗi lần uống 200ml, mỗi ngày uống 3 lần.
  • Công hiệu: Thanh nhiệt, giải độc, mát máu, khỏi lỵ. Chú ý những người mắc chứng đi tả, tì hư không được dùng.
  1. Long nhãn, nha đảm tử
  • Chữa trị: bệnh lỵ amip (bệnh trạng tả lỵ khi nặng khi nhẹ, trong phân có máu mủ lẫn lộn, nhiều mùi hôi. Sắc mặt nhợt nhạt, tinh thần mệt mỏi, rêu lưỡi trắng, nhạt miệng, mạch vi nhược, vi khuẩn sống dai, trị lâu không khỏi)
  • Liều lượng: Dùng 10 hạt nha đảm tử, nghiền thành bột, ăn với long nhãn, mỗi ngày 3 lần.
  • Công hiệu: diệt khuẩn, trừ tả, giải độc, mát máu, bổ tì, yên tâm. Thường ăn sau bữa cơm.
    • Không kéo dài thời gian điều trị.
  1. Cháo gạo nếp, tỏi
  • Chữa trị: Bệnh lỵ amíp, hư hàn (bệnh mắc đi mắc lại kéo dài, phân dính màu vàng trắng hoặc đỏ sẫm, bụng đau âm ỉ, chân tay giá lạnh, biếng ăn, thần kinh mệt mỏi, da mặt nhợt nhạt, nhạt miệng, rêu lưỡi trắng, mạch hư nhược).
  • Liều lượng: Dùng 30g củ tỏi to loại vỏ đỏ (tỏi tím – bóc vỏ) cho vào nước sôi đảo qua, vớt ra, lấy 100g gạo nếp nấu thành cháo. Cho vào cháo, ninh nhừ. Ăn cháo vào 2 buổi sáng tối.
  • Công hiệu: Bổ, ấm dạ dày, diệt khuẩn, trừ tả. Phù hợp với căn bệnh lỵ cấp tính, mạn tính của người già. Người cao tuổi mắc bệnh lao phổi, huyết áp cao, sơ cứng động mạch cũng dùng được.
  1. Hoàng kỳ, ô mai
  • Chữa trị: Bệnh lỵ a míp hư hàn (như trên)
  • Liều lượng: Hoàng kỳ, ô mai mỗi thứ 200g cho vào 1000ml nước, sắc lấy 500ml, cho vào 250g đường đỏ, quấy đều. Mỗi lần uống 20ml, mỗi ngày 2 lần.
  • Công hiệu: Bổ khí huyết, bổ tì, diệt khuẩn, trừ tả. Chú ý những người bị ngoại cảm không dùng.
  1. Nước tỏi và đường.
  • Chữa trị: Bệnh lỵ a míp.
  • Liều lượng: Lấy 2 củ tỏi to giã nát, ngâm vào nước sôi trong nửa ngày, lọc lấy nước, pha vào ít đường trắng hoặc đường đỏ.
  • Công hiệu: bổ tì, khai vị, giải độc, trừ tả.
  1. Nước nho, gừng, mật ong
  • Chữa trị: bệnh lỵ amip, lỵ do vi khuẩn đau bụng trước nhẹ sau nặng, phân lẫn máu mủ.
  • Liều lượng: Nho tươi, gừng tươi rửa sạch, giã nát vắt lấy nước, pha 1 cốc nước chè xanh đặc, cho vào nước chè 50ml nước nho, 50ml nước gừng, mộtít mật ong. Quấy đều, đun sôi lên uống nóng.
  • Công hiệu: Khử thấp, thông khí, diệt khuẩn, trừ tả.
  1. Cháo hạt sen, gừng tươi
    hajt sen
  • Chữa trị: bệnh lỵ, biếng ăn.
  • Liều lượng: Lấy 100g hạt sen, bóc vỏ, 25g gừng tươi. Cho nước vừa đủ, nấu thành cháo hạt sen, gừng.
  • Công hiệu: Kích thích tiêu hóa, trừ tả.
  1. Vỏ lựu, hồ tiêu, đường đỏ.
  • Chữa trị: bệnh lỵ, phân có máu dính nhày
  • Liều lượng: lá lựu (vỏ quả lựu) 15g, hồ tiêu 3 hạt, đường đỏ. Dùng 1 bát nước cho vỏ lựu, hồ tiêu vào sắc lấy ½ bat nước vơt bỏ bã, cho đường vào quấy.
  • Công hiệu diệt khuẩn, trừ tả.
  1. Đậu tằm gạo, bách thảo sương
  • Chữa trị: Kiết lỵ (giai đoạn cuối)
  • Liều lượng: trước hết đun 600g đậu tằm sao vàng, sau đó cho 30g bách thảo sương, gạo và nước vừa đủ nấu thành cháo.
  • Công hiệu: Bổ tì, trừ lỵ.
  1. Nước quả mướp đắng.
  • Chữa trị: bệnh lỵ ở trẻ em.
  • Liều lượng: Dùng môt quả mướp đắng ép lấy nước để uống.
  • Công hiệu: Giải độc, trừ lỵ.
  1. Nước củ cải, gừng tươi
  • Chữa trị: bệnh kiết lỵ di vi khuẩn.
  • Liều lượng: Nước củ cải 1 cốc, nước gừng tươi ½ thìa, mật ong 30g, chè đỏ 3g, hòa vào một cốc nước sôi để uống, liên tục 3 cốc.
  • Công hiệu: Diệt khuẩn, trị lỵ.

Nguồn: Đông Y Thiện Tri Thức tổng hợp.