Đại giả thạch có tác dụng gì? – Cách bào chế, chú ý khi sử dụng

Published on Author Trần Văn Khắc

Đại giả thạch là một loại khoáng chất dùng làm thuốc có tác dụng cầm nôn, cầm máu, trấn khí nghịch, dưỡng âm huyết

Tên thường gọi: Còn gọi là Tu hoàn (Bản Kinh), Huyết sư, Hoàng thổ đỏ, Thổ chu, Chu thạch, Xích thạch, Huyết thạch, Tử châu, Linh lăng, Thiết chu, Kinh thiết, Đại giả thạch (Hoà Hán Dược Khảo) Hà giả thạch, Đinh đầu đại giả (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

Tên khoa học: Hematite

Đại giả thạch là khoáng chất có màu nâu đỏ có lộn Oxid sắt và Bioxid mangan. Hình khối có chất cứng, đập vụn có bột màu đỏ nâu, loại kết tinh gọi là “Huy thiết khoáng đại giả”, loại bán kết tinh là “Xích thiết khoáng đại giả” bên trong có dạng như cái biếu u tròn đinh trống gọi là “Đinh đầu đại giả” là loại phẩm chất tốt nhất. Bộ phận dùng đó chính là thứ mầu đỏ nâu, mặt bẻ ngang nổi rõ các lớp xếp chồng nhau.

Vị này chưa được khai thác ở Việt Nam, thường được nhập ở Trung Quốc.

Bào chế

Đem nguyên cục đập thành từng cục nhỏ như hạt đậu xanh. Có thể dùng sống hoặc nung lửa đang còn lửa nóng, sau khi đỏ hồng thì lấy ra, xong ngâm  trong nước giấm 3-7 lần sau đó đâm vụn ra dùng nước lạnh ngâm 24 giờ (cứ 12 giờ thay nước 1 lần) phơi khô cất dùng.

đại giả thạch

Hình minh họa: Vị thuốc đại giả thạch

Thành phần hóa học

Đại giả thạch là đất sét có lộn Oxid sắt và Bioxid mangan.

Theo Đông y

Đại giả thạch có vị cay, tính lạnh. Vào kinh Can, Tâm bào.

Tác dụng

Bình Can tiềm dương, Giáng khí và cầm nôn, cầm máu, trấn khí nghịch, dưỡng âm huyết. Đại gia thạch bẩm thụ khí âm trong thổ mà sống, Bản kinh ghi rằng nó có vị đắng khí hàn. Biệt lục thêm vào vị ngọt không độc, khí nhẹ nồng, thuộc âm đi xuống vào kinh thủ thiếu âm, túc quyết âm. Thiếu âm là quân chủ chi quan, hư thì hoãn sợ mà các tà khí dễ nhập vào, hoặc là qủy chú tà khí, hoặc tinh vật ác qủy, hoặc là khí hoảng sợ vào bụng, sẽ tự xâm nhập vào. Dược tính trấn tĩnh thì Tâm quân thái bình mà mờ huyết tý huyết ứ tặc phong, và các bệnh băng lậu đới hạ của phụ nữ, đều bởi huyết nhiệt của hai kinh can tâm gây ra, vì vị ngọt tính lạnh lương huyết được nên chủ trị được các chứng như trên. Vị ngọt tính hàn lại giải được độc nên chủ cố độc trúng ở vùng bụng. Nội kinh nói rằng “Tráng hỏa thực khí, Thiếu hỏa sinh khí” hỏa khí quá thịnh thì âm nuy, có tính nặng mà trụy xuống, do đó lại chủ về sinh khó thai không ra được và trụy thai

Chủ trị

  • Trị ợ hơi, nấc, nôn ra đờm, máu do Vị khí nghịch lên.
  • Đầu và mắt sưng đau, hoa mắt chóng mặt do Can thận âm hư và Can dương vượng: Ðại giả thạch phối hợp với Long cốt, Mẫu lệ, Bạch thược, Quy bản và Ngưu tất (Trấn Can Tức Phong Thang).
  • Nôn và ợ do vị khí nghịch. Ðại giả thạch phối hợp với Tuyền phúc hoa, Gừng tươi và Bán hạ (Tuyên Phúc Ðại Giả Thang)
  • Hen do Phế Thận hư: dùng Ðại giả thạch hợp với Nhân sâm và Sơn thù du.
  • Xuất huyết do huyết nhiệt (nhiệt bức huyết vong hành) biểu hiện nôn máu và chảy máu cam: Ðại giả thạch hợp với Bạch thược, Trúc nhự và Ngưu bàng tử (Toàn Phúc Đại Giả Thang)
  • Rong kinh rong huyết biểu hiện hoa mắt, chóng mặt do thiếu máu: Ðại giả thạch hợp với Vũ dư lương, Xích thạch chi, Nhũ hương và Một dược.

Liều dùng: Ngày dùng 10-30g

Một số bài thuốc chữa bệnh từ Đại giả thạch

  1. Trị vị khí hư yếu, đờm trọc dâng lên bên trong, phía dưới tim có hòn khối:

Bán hạ 10g, Chích thảo 10g, Đại giả thạch 12g, Đại táo 12 trái, Nhân sâm 6g, Sinh khương 10g, Tuyền phúc hoa 10g. Sắc uống. Tác dụng: Giáng nghịch, hóa đờm, ích khí, hòa vị. (Đại Giả Tuyền Phúc Thang – Y Phương Tập Giải).

  1. Trị chứng ngăn nghẹn ở ngực (ế cách):

Bán hạ 20g, Chích thảo 12g, Đại giả thạch 12g, Đại táo 3 quả, Đảng sâm 12g, Sinh khương 20g, Tuyền phúc hoa 12g. Sắc uống. (Đại Giả Tuyền Phúc Thang II – Y Lược Giải Âm).

  1. Chữa đau đầu chóng mặt huyết áp cao:

Bạch thược, Sinh địa, Dạ giao đằng, Đại giã thạch, Sung úy tử, Đan sâm, Hoa hòe, Huyền sâm, Mẫu lệ, Ngưu tất, Nhân trần, Sinh địa, Sung úy tử, Thiên đông. Mỗi vị 20-40g đem sắc uống. Công dụng: Dục âm tiềm dương (Trấn Can Tức Phong Thang I).

  1. Trị sinh xong mà máu dơ không ra hết, bụng đau:

A giao 80g, Đại giả thạch 120g, Can khương 120g, Mã đề xác 1 cái, Ngưu giác tai 200g, Sinh địa 160g, Tro tóc 40g. Tán bột, làm hoàn. (Ngưu Giác Tai Hoàn – Thẩm Thị Tôn Sinh

  1. Trị băng huyết:

Dùng Đại giả thạch đốt rồi tán bột, dùng lần 6g với nước (Phổ Tế Phương).

  1. Trị suyễn khò khè như vịt kêu không nằm ngửa được:

Dùng bột Đại giả thạch, uống với nước dấm và nước cơm (Phổ Tế Phương).

  1. Trị sưng họng:

Dùng Đại giả thạch nấu lấy nước uống (Phổ Tế Phương).

  1. Trị đau răng:

Dùng Đại giả thạch, Kinh giới nghiền bột xức vào (Phổ Tế Phương).

  1. Trị đi cầu ra máu (trường phong hạ huyết):

Dùng Đại giả thạch 30g, đốt nung với nước gạo, dấm 1 thăng rồi đâm mịn như cám lần uống 3g, có thể trị được mửa ra máu, chảy máu cam (Đẩu Môn Phương).

Lưu ý:

Kiêng kỵ: Ngoại cảm phong hàn và mới bị bệnh nhiệt. Hạ bộ hư hàn không nên dùng, dương hư âm hàn cấm dùng, sợ thiên hùng, phụ tử, phụ nữ có thai cấm dùng.

Nguồn: Tổng hợp