Vị thuốc ô dược có tác dụng gì? – Cách bào chế, chú ý khi sử dụng

Published on Author Đỗ Sang

Ô dược có tác dụng chữa đau bụng đầy hơi, nôn mửa, đau dạ dày…Khí hư, tạng nhiệt thì không nên dùng.

Tên khoa học: Lindera myrrha.

Nguyên liệu:

Rễ. Rễ như đùi gà (ô dược đùi gà) khô mập chỗ to nhỏ không đều, rắn chắc, vỏ nâu, thịt vàng ngà, sạch rễ, không mọt, trơn nhẵn, có hương thơm là tốt.

Ở miền Nam có cây cũng được gọi là ô dược, cây rất to, gỗ làm bàn ghế, nhựa làm nhang, rễ dùng làm thuốc, cần nghiên cứu thêm.

Thành phần hóa học:

Thành phần hóa học (của cây ô dược Trung Quốc, Lindera strychnifolia Will): có alcaloid (Linderan, Linderen v.v…).

Tác dụng:

Theo đông y:

Tính vị – quy kinh: vị cay, tính ôn. Vào bốn kinh tỳ, vị, phế và thận.

Tác dụng: thuận khí, ôn trung; làm thuốc trị trúng phong, trúng khí.

Chủ trị – liều dùng: đau bụng, tiêu hóa kém, ngực tức đầy, nôn mửa, cắt cơn đau.

Ngày dùng 8 – 16g.

Theo y học hiện đại:

  • Ô dược có tác dụng chuyển hóa: cho chuột ăn Ô dược 1 thời gian dài thấy tăng trọng hơn so với lô  đối chứng  (Chinese Hebral Medicine).
  • Ô dược có tác dụng đối với Vị trường: Thí nghiệm trên chó được gây mê cho thấy Ô dược và Mộc hương đều có tác dụng tăng nhu động ruột, trừ đầy hơi. Uống hoặc  chích đều  có hiệu quả (Chinese Hebral Medicine).
  • Ô dược có tác dụng 2 mặt đối với cơ trơn bao tử và ruột, có tác dụng làm tăng nhu động ruột, giúp ruột bài khí, đồng thời làm giảm trương lực của ruột thỏ cô lập. Ô dược có thể làm tăng tiết dịch ruột.
  • Bột Ô dược khô có tác dụng rút ngắn thời gian tái canxi hóa của huyết tương, rút ngắn thời gian đông máu và có tác dụng cầm máu.
Vị thuốc ô dược
Vị thuốc ô dược

Lưu ý:

Khí hư, tạng nhiệt thì không nên dùng.

Cách bào chế:

Theo kinh nghiệm Việt Nam:

–   Rửa sạch, ủ đến mềm thấu, để ráo, xóc với giấm, thái lát phơi khô.

–   Ngâm một đêm, rửa sạch, thái mỏng (khó bào), phơi khô (thường dùng).

–   Tại Viện Đông y: ngâm 1 – 2 giờ, rửa sạch, ủ mềm thấu, thái mỏng, phơi khô.

–   Có khi rửa sạch, phơi khô, khi dùng đem mài lấy 2 – 4g pha với nước thuốc thang đã sắc để uống. Nếu mài thì rất lâu, do vậy nên tán bột mịn, khi dùng uống với nước thuốc thang.

Theo Trung y:

Hái thứ rễ xung quanh có từng đốt nối liền nhau (rễ đuôi chuột không dùng), bỏ vỏ lấy lõi, sao qua hoặc mài.

Lấy rễ khô ngâm nước một ngày, vớt ra ủ cho mềm thấu, thái lát, phơi khô hoặc mài.

Bảo quản: dễ mốc mọt nên cần để nơi khô ráo thoáng gió.