Vị thuốc bạch thược có tác dụng gì? – Cách bào chế bạch thược

Published on Author Đỗ Sang

Bạch thược có tác dụng thanh can, tư âm, liễm âm khí. Dùng trị đau ngực sườn, mồ hôi trộm, huyết hư, thai nhiệt, kinh nguyệt không đều.

Tên khoa học: Paeonia lactiflora.

Nguyên liệu:

Củ của cây bạch thược. Dùng thứ to bằng đầu ngón tay hay ngón chân cái và dài 10 – 15cm, thịt trắng hồng, ít xơ. Thứ nhỏ, lõi đen sẫm là xấu. Hiện nay ta chỉ có thứ nhỏ, xơ nhiều, vỏ ngoài nhăn nheo.

Không nhầm với xích thược: da đỏ đen, nhiều xơ.

Thành phần hóa học:

Trong rễ có acid benzoic, tanin, tinh bột, đường; còn có paconon và paconon acetat.

Tác dụng:

Theo đông y:

Tính vị – quy kinh: vị hơi đắng, chát, chua nhiều. Vào bốn kinh tâm, tỳ, phế và can.

Tác dụng: thanh can, tư âm, liễm âm khí.

Chủ trị – liều dùng:

–   Dùng sống: trị đau nhức, trị các chứng tả lỵ, giải nhiệt, nên dùng để trị cảm mạo do chứng hư gây nên.

–   Sao tẩm: trị các chứng bệnh về huyết, thông kinh.

–   Sao cháy cạnh: trị băng huyết.

Ngày dùng 6 – 12g.

Theo y học hiện đại:

+ Glucozit Bạch Thược có tác dụng ức chế trung khu thần kinh do đó có tác dụng an thần, giảm đau.

+ Gluczit Thược Dược có tác dụng ức chế cơ trơn của tử cung và dạ dầy, ruột, ức chế sự tiết vị toan, phòng được loét ở chuột cống thực nghiệm.

+ Nước sắc Bạch Thược có tác dụng ức chế các loại trực khuẩn lỵ thương hàn, trực khuẩn đại trường, trực khuẩn mủ xanh, tụ cầu khuẩn vàng, liên cầu khuẩn tán huyết, phế cầu khuẩn và nhiều loại nấm ngoài da.

+ Glucozit Bạch Thược có tác dụng chống viêm và hạ nhiệt.

+ Glucozit Bạch Thược có tác dụng chống sự hình thành huyết khối do tiểu cầu tăng, tăng lưu lượng máu dinh dưỡng cơ tim, có tác dụng bảo vệ gan, làm hạ men Transaminaza.

+ Bạch Thược có tác dụng gĩan mạch ngoại vi và hạ áp nhẹ nhờ tác dụng chống co thắt cơ trơn của mạch máu.

+ Bạch Thược có tác dụng cầm mồ hôi và lợi tiểu.

Vị thuốc bạch thược
Vị thuốc bạch thược

Lưu ý:

Trúng hàn, đau bụng đi tả thì không nên dùng.

Cách bào chế:

Theo kinh nghiệm Việt Nam:

Có nhiều cách bào chế:

Dùng sống: rửa sạch, phơi khô, dùng đến đâu đập dập.

–   Rửa sạch, ngâm nước 2 – 3 giờ vớt ra ủ một đêm, hôm sau đem đồ mềm, ủ bao tải lại cho nóng, bào mỏng, sấy hay phơi khô. Không nên ngâm lâu mất chất (ra nước trắng).

–   Rửa sạch, ngâm qua 2 – 3 giờ, đồ qua, mở vung cho bay hơi, đậy vung lại để giữ nóng. Lấy dần ra bào mỏng, nếu nguội thì rắn khó bào. Làm ngày nào hết ngày hôm đó, không để sang ngày hôm khác.

Theo kinh nghiệm Viện Đông y:

Rửa sạch, ngâm nước thường 1 – 2 giờ (với thời gian ngâm này, chưa tiết ra nước trắng), ủ 1 – 2 đêm. Bào mỏng (thái thì đẹp nhưng lâu công) 1 – 2 ly, sao qua.

Nếu không ngâm chỉ ủ thôi thì 4 – 5 đêm mới mềm và sau mỗi đêm phải rửa nếu không thì mốc, và mỗi lần rửa như vậy thì nước rửa hóa ra nước trắng.

Dùng chín: có thể tùy theo đơn:

Tẩm giấm sao qua hoặc sao cháy cạnh.

Tẩm rượu sao qua.

Theo Trung y:

Dùng bạch thược nên lấy dao tre cạo sạch vỏ ngoài, tẩm mật loãng độ 3 giờ, phơi khô.

Theo Lý Thời Trân: “Phần nhiều dùng sống, muốn tránh hàn thì tẩm sao”. Nếu chữa bệnh huyết tháng của phụ nữ thì tẩm giấm sao.

Bảo quản: chưa bào chế thì thường phải sấy diêm sinh. Đã bào chế rồi thì để nơi khô ráo, tránh ẩm.