Vị thuốc cam thảo bắc có tác dụng gì? – Cách bào chế cam thảo bắc

Published on Author Đỗ Sang

Cam thảo dùng chữa tỳ vị hư nhược, tâm khí hư mạch kết, mạch đại, ho suyễn, đau cấp hoãn, hầu họng sưng đau, giải độc thuốc, thức ăn…

Tên khoa học: Glycyrrhiza uralensis Fisch.

Nguyên liệu:

Rễ của cây cam thảo bắc. Rễ to, ngoài màu nâu hồng, trong vàng, ngọt, nhiều mùi đặc biệt, nhiều bột, ít xơ là tốt. Không nên nhầm với rễ thổ cam thảo (Cao Bằng), ít ngọt lợm.

Thành phần hóa học:

Dược liệu có glycyrrhizin 6 – 14%; chất đắng; glucose, saccharose, tinh bột, chất saponin.

Tác dụng:

Theo đông y:

Tính vị – quy kinh: vị ngọt, tính bình. Nhập 12 kinh.

Tác dụng: bổ tỳ, nhuận phế, ích tinh, điều hòa các vị thuốc.

Chủ trị – liều dùng:

–   Dùng sống: thanh nhiệt, giải độc, tiêu khát, trị ho viêm cổ họng.

–   Sao vàng thơm: bổ tỳ vị, tỳ hư, ỉa chảy.

–   Tẩm mật sao: nhuận bổ.

Ngày dùng 4 – 20g (các dạng).

Theo y học hiện đại:

Cam thảo có tác dụng:

  • Giải độc rất tốt dối với nhiều loại độc tố: như Chloralhydrat, Physostigmin, Acetylcholin, Pilocarpin, các loại Barbituric, Histamin…
  • Tác dụng kích thích bài tiết dịch niêm mạc của hầu họng và khí quản, làm cho loãng đàm, làm long đờm tốt.
  • Tác dụng giữ nước và muối NaCl trong cơ thể, bài thải Kali gây phù, làm tăng huyết áp.
  • Tác dụng chống loét, ức chế tiết axit dịch vị do có tác dụng ức chế Histamin, làm vết loét chóng lành.
  • Tác dụng chống co thắt đốí với cơ trơn ống tiêu hóa.
  • Tác dụng kháng khuẩn, kháng viêm (do tác dụng làm giảm tính thẩm thấu của mao mạch, kháng Histamin và làm giảm tính phản ứng của tế bào đối với kích thích).
  • Tác dụng làm hạ mỡ rõ rệt, nhưng không có tác dụng phòng xơ mỡ động mạch.
  • Cam thảo cùng dùng với Sài hồ có tác dụng chống thoái hóa mỡ ở gan.
  • Cam thảo còn có tác dụng giải nhiệt, chống lợi niệu và trên thực nghiệm có tác dụng chống rối loạn nhịp tim.
Vị thuốc cam thảo
Vị thuốc cam thảo

Lưu ý:

Tỳ vị thấp trệ, ngực đầy tức không nên dùng. Kỵ với cam toại (Euphorbia Kansui Liou), nếu dùng chung gây phản ứng nguy hiểm.

Cách bào chế:

Theo kinh nghiệm Việt Nam:

–   Rửa sạch nhanh (khỏa nhanh), đồ mềm, thái mỏng 2 ly, khi còn nóng (nếu không thái kịp nhúng ngay vào nước lạnh, ủ mềm). Sấy hoặc phơi khô (cách này thường dùng gọi là sinh thảo).

–   Thái xong sao vàng thơm.

–   Sau khi sấy khô tẩm mật ong (1 phần mật ong pha với 1 phần nước đun sôi), sao vàng thơm (chích thảo) (cứ 1 kg cam thảo phiến tẩm 150 – 200 ml mật ong).

–   Tán bột làm hoàn tán thì sau khi cạo sạch vỏ ngoài, thái miếng tròn, sấy khô tán bột.

–   Nếu dùng ít có thể cắt khúc 5 – 10cm, quấn vải lẫn giấy bản, nhúng qua nước cho đủ ướt, vùi vào trong tro nóng, khi thấy giấy khô hơi sém thì bỏ giấy, thái lát mỏng.

Theo Trung y:

–   Phấn cam thảo: cạo sạch vỏ, ngâm rượu độ 1 giờ, ủ độ 12 giờ, thái mỏng 2 ly, phơi khô.

–   Lão cam thảo: ngâm nước độ 4 giờ (mùa đông 8 giờ) ủ kín cho mềm, thái mỏng, phơi khô.

–   Chích cam thảo: rửa qua, ủ mềm, thái mỏng, lấy mật ong thêm 1 phần nước, nấu sôi, tẩm vào cam thảo, vớt ra để se một lúc sao vàng (không dính tay là được).

Theo Tây y:

–   Bỏ vỏ mỏng, thái nhỏ, sấy khô, tán trong cối sắt, rây số 22 để rây; có tác dụng lợi tiểu, làm ngọt, ngày dùng 5 – 20g.

–   Lấy rễ cam thảo tươi (loại trồng trên 4-5 năm): cạo bỏ vỏ mỏng, thái nhỏ, xay nhỏ trong cối. Ngâm nước lạnh một đêm, chắt lấy nước, sắc nhẹ lửa với nước trong vòng 10 giờ, ép lấy nước. Bã còn lại cho ngập nước vào, chắt lấy nước (làm 2 lần). Nước cam thảo lấy được cô lại nhẹ lửa cho đến độ đặc. Để nguội làm thành miếng nặng 6g đến 120g. Những miếng cam thảo này đen và dễ gẫy, có thể tán nhỏ được, có vị ngọt hơi đắng, rất dễ tan trong nước. Dùng trị ho và làm ngọt, cứ 1 lít nước pha với 0,5g cao này.

–   Ngâm 1 kg cam thảo đã thái nhỏ với 5 lít nước lạnh trong 12 giờ, ép lấy nước. Bã còn lại ngâm với 3 lít nước lạnh trong 12 giờ. Dồn 2 nước ngâm lại để lắng, gạn lấy nước, đun sôi lọc nóng, cô cách thủy cho đến độ cao mềm (có thể với 5 lít nước lạnh ban đầu cho thêm 20g ammoniac và với 3 lít nước lạnh về sau thêm 4g ammoniac, công dụng như trên).

Bảo quản: đựng thùng kín, để nơi khô ráo, cần tránh ẩm, vì rất dễ mốc mọt. Nếu bị mốc mọt, cần sấy bằng hơi nóng (nhiệt độ thấp), để nguội rồi mới cho vào hòm kín, cho vào ngay lúc đang nóng sẽ bị biến chất. Tuyệt đối không được sấy diêm sinh vì sẽ biến chất, mất vị ngọt, trong sẽ bạc, ngoài sẽ hồng.