Vị thuốc chỉ xác có tác dụng gì? – Cách bào chế chỉ xác, chú ý khi sử dụng

Published on Author Đỗ Sang

Chỉ xác có tác dụng trục đờm, táo thấp, tiêu hóa. Thường dùng để giúp tiêu hoá, chữa ngực sườn đau tức, bụng chướng khó tiêu…

Tên khoa học: Citrus aurantium.

Nguyên liệu:

Quả trấp già. Dùng thứ quả trấp chín còn xanh vỏ, đã bổ đôi, cùi càng dày càng tốt, mùi thơm, ruột bé, trắng ngà, để lâu năm, cứng chắc không ẩm mốc là tốt.

Không nhầm với quả bưởi hay cam hôi (hai thứ này thịt xốp cùi mỏng, không bào được).

Thành phần hóa học:

Có glucosid, orantiamirin, hetperiddin, isohetperidin, d-limonen, citran.

Tác dụng:

Theo đông y:

Tính vị – quy kinh: vị nhẹ, cay đắng, chua, tính hơi hàn. Vào hai kinh tỳ và vị.

Tác dụng: thuốc trục đờm, táo thấp, tiêu hóa.

Chủ trị – liều dùng: trị ho tức, tiêu đờm tích, tiêu trướng đầy.

Ngày dùng 3 – 6g.

Theo y học hiện đại:

Chỉ thực và Chỉ xác đều có tác dụng  cường tim, tăng huyết áp do thành phần chủ yếu là Neohesperidin nhưng không làm tăng nhịp tim. Thuốc có tác dụng  co mạch, tăng lực cản của tuần hoàn ngoại vi, tăng co bóp của cơ tim, tăng lượng cGMP của cơ tim và huyết tương nơi chuột nhắt.

Kết quả thực nghiệm cho thấy Chỉ thực và Chỉ xác vừa có tác dụng  làm giảm trương lực cơ trơn của ruột và chống co thắt, vừa có thể hưng phấn làm tăng nhu động ruột, do trạng thái chức năng cơ thể, nồng độ thuốc và cá thể thực nghiệm khác nhau mà có tác dụng  cả hai mặt ngược nhau, như vậy dùng thuốc để điều chỉnh sự rối loạn chức năng đường tiêu hóa ở trạng thái bệnh lý là tốt.

Nước sắc Chỉ thực và Chỉ xác có tác dụng  hưng phấn rõ rệt đối với tử cung thỏ có thai hoặc chưa có thai, cô lập hoặc không, nhưng đối với tử cung chuột nhắt cô lập lại có tác dụng ức chế.tác dụng  hưng phấn tử cung của thuốc phù hợp với kết quả điều trị chứng tử cung sa có kết quả trên lâm sàng.

Vị thuốc chỉ xác
Vị thuốc chỉ xác

Lưu ý:

 Tỳ vị hư hàn, không tích trệ, đàn bà có mang sức yếu không nên dùng.

Cách bào chế:

Theo kinh nghiệm Việt Nam:

Rửa sạch, ủ mềm, nạo bỏ ruột, hột, thái hay bào mỏng, phơi khô (cách này thường dùng).

Sau khi phơi khô, có thể sao với cám, đến khi cám vừa đủ thơm thì được (cách này dùng cho người sức yếu).

Theo Trung y:

Chọn thứ cay đắng, còn dầu, để được càng lâu càng tốt. Bỏ hết hột và ruột, sao với cám đến khi cám cháy đen là được, sàng bỏ cám mà dùng.

Bảo quản: dễ mốc, cần để nơi mát, khô ráo, không sấy hoặc sao ở nhiệt độ cao.