Vị thuốc tam thất có tác dụng gì? – Cách bào chế, chú ý khi sử dụng

Published on Author Đỗ Sang

Tam thất là vị thuốc bổ cầm máu (chữa thổ huyết, băng huyết, rong huyết, sau đẻ máu hôi không ra hết, lỵ ra máu), ung nhọt, sưng do chấn thương, thiếu máu nặng…

Tên khoa học: Panax notoginseng.

Nguyên liệu:

Củ của cây tam thất. Chọn củ tam thất mọc hoang ở rừng núi (to thì 85 củ = 1kg, nhỏ cũng được 102 củ = 1kg), cứng nặng đen, thịt xanh xám, chỗ cắt mịn thì tốt, còn thịt trắng vàng là kém; thứ tam thất gây trồng thì bé hơn; thứ da nhẵn, ít đắng thì kém phẩm chất.

Không nhầm với củ nga truật (Curcuma zedoaria Roscoc, họ gừng) thường làm tam thất giả và cũng đừng nhầm với thổ tam thất (Gynura sgetum (Lour) Merr, họ cúc), củ to hơn, da ngoài vàng xám, ít đắng.

Có người nói lấy bột tam thất cho vào máu mới đặc mà máu tan ra thì đúng là tam thất.

Thành phần hóa học:

Thành phần hóa học: có hai chất saponim là: arasaponin A và arasaponin B, ngoài ra còn có phần dầu, loại đường và nhựa.

Tác dụng:

Theo đông y:

Tính vị – quy kinh: vị đắng, hơi ngọt, tính ấm. Vào 2 kinh can và vị.

Tác dụng: tán ứ, sinh tân chỉ huyết.

Chủ trị – liều dùng:

Dùng làm thuốc bổ cầm máu (chữa thổ huyết, băng huyết, rong huyết, sau đẻ máu hôi không ra hết, lỵ ra máu), ung nhọt, sưng do chấn thương, thiếu máu nặng, mệt mỏi, hoa mắt, chóng mặt, nhức đầu, ngủ ít. Kinh nghiệm dân gian Tam thất có thể chữa được một số trường hợp ung thư (ung thư vú, ung thư máu…).

Ngày dùng 4 – 6g.

Theo y học hiện đại:

Dược liệu làm tăng khả năng hoạt động, tăng sức đề kháng của súc vật đối với yếu tố độc hại như liều độc Uabain với tim, nhiệt độ môi trường xung quanh quá cao hoặc quá thấp vượt ngoài giới hạn điều hòa của cơ thể.

Thuốc khác với Nhân sâm không có tác dụng gây tăng huyết áp.

Đối với tác dụng nội tiết:

a.Dược liệu thí nghiệm trên chuột cống cái non với liều 5g/kg, uống trong 6 ngày đã làm tăng trọng lượng tử cung một cách có ý nghĩa so với lô chứng, chứng tỏ thuốc có tác dụng hướng sinh dục trên súc vật cái.

b.Dược liệu thí nghiệm trên chuột đực non với liều 5g/kg, uống trong 6 ngày, không làm thay đổi một cách có ý nghĩa trọng lượng tinh hoàn và tuyến tiền liệt so với chuột đối chứng, chứng tỏ Tam thất không có tác dụng hướng sinh dục đối với vật đực với liều này.

c.So sánh hoạt tính gây động dục của dược liệu có độ tuổi khác nhau, các tác giả nhận xét là rễ Tam thất 5 năm có hoạt tính gây động dục hai lần mạnh hơn rễ Tam thất 3 năm.

d.Nghiên cứu tác dụng gây động dục của lá và rễ phụ so sánh với rễ củ Tam thất thì thấy lá Tam thất có hoạt tính yếu hơn khoảng 8 – 10 lần so với rễ củ Tam thất 5 năm.

Tác dụng tiêu viêm: Nước sắc dược liệu có tác dụng chống viêm đối với chuột cống gây viêm khớp thực nghiệm ( ảnh hưởng của nước sắc Tam thất đối với viêm khớp thực nghiệm, Dược học học báo 12:446-451.1965).

Nước ngâm kiệt dược liệu trên ống nghiệm có tác dụng ức chế nhiều loại nấm ngoài da ( Tạp chí Bệnh ngoài da Trung hoa:286-292,1957).

Vị thuốc tam thất
Vị thuốc tam thất

Lưu ý:

Người huyết hư, không có ứ huyết thì chớ dùng.

Cách bào chế:

Theo kinh nghiệm Việt Nam:

Có thể dùng tươi, rửa sạch, giã đắp lên vết thương.

Rửa sạch, phơi khô, khi dùng tán bột hoặc mài với nước mà uống, không dùng sắc và không sao tẩm gì.

Rửa kỹ bằng bàn chải, để ráo, ủ rượu cho mềm, bào phiến mỏng, sấy nhẹ cho khô đựng trong lọ kín, khi dùng hãm riêng rồi hòa vào chén thuốc đã sắc tới cho uống.

Có người rửa kỹ để ráo, ủ rượu 3 giờ cho mềm, thái mỏng sao qua (vi sao) tán bột để dùng.

Theo Trung y:

Mùa nắng hoặc mùa đông, đào lấy củ đem về rửa sạch, phơi khô; khi dùng thái lát, tán bột.

Ghi chú: hầm tam thất với gà ác cho ăn thì rất bổ.

Bảo quản: cần tránh mọt, sao chế rồi đậy kín nên dùng ngay.