Vị thuốc tô mộc có tác dụng gì? – Cách bào chế, chú ý khi sử dụng

Published on Author Đỗ Sang

Tô mộc dùng chữa lỵ ra máu, chảy máu đường ruột, ỉa chảy do nhiễm trùng đường ruột. Trị bế kinh, hậu sản ứ huyết: Phối hợp hương phụ, ngải cứu.

Tên khoa học: Caesalpinia sappan.

Nguyên liệu:

Gỗ của cây tô mộc. Chọn loại nặng, màu vàng óng ánh hay đỏ sẫm, to bản (rộng 5cm) là tốt.

Tô mộc thật thì nặng, thớ song song, dễ chẻ, óng ánh, nếm ngọt thơm. Thứ giả nhẹ, thớ vặn vẹo, khó chẻ, nếm rất chát.

Thành phần hóa học:

Thành phần hóa học: có tanin, acid galic, chất sappanin, brasilin và tinh dầu.

Tác dụng:

Theo đông y:

Tính vị – quy kinh: vị ngọt, tính bình. Vào ba kinh tâm, can và tỳ.

Tác dụng: hành huyết, thông kinh lạc, trừ ứ, trừ phong, có chất kháng sinh.

Chủ trị – liều dùng: sản hậu huyết ứ, kinh nguyệt bế; trị ung nhọt, trật da ứ huyết; trị lỵ cấp tính, viêm ruột, ỉa chảy do nhiễm trùng đường ruột.

Ngày dùng 4 – 20g (thuốc sắc).

Theo y học hiện đại:

1.Tô mộc có tác dụng làm co mạch nhẹ đối với tim ếch cô lập gây co bóp mạnh hơn, có thể làm cho lực co bóp của tim giảm do nước sắc Chỉ xác được hồi phục.

2.Thuốc có tác dụng làm giảm độc một số thuốc như: Chlopromazin, quinin, nikethamid,.. đối với tim ếch cô lập.

3.Liều lượng nhỏ của thuốc có thể gây ngủ đối với chuột nhắt, thỏ, chuột Hòa lan, liều lượng lớn có tác dụng gây mê, gây tử vong.

4.Thuốc có tác dụng đối kháng tính hưng phấn trung khu thần kinh của Strynin và Codein, nhưng không đối kháng với tính hưng phấn trung khu thần kinh của Morphin. Thuốc có tác dụng ức chế tử cung cô lập của chuột nhắt.

5.Nước ngâm và nước sắc Tô mộc có tác dụng ức chế các loại vi khuẩn như Bạch hầu, Cúm, Phó thương hàn C, Trực khuẩn Flexner, Tụ cầu vàng, Liên cầu khuẩn tan huyết, Phế cầu khuẩn, Ho gà, Thương hàn, Phó thương hàn A, B.

Vị thuốc tô mộc
Vị thuốc tô mộc

Lưu ý:

Huyết hư không ứ trệ thì không nên dùng.

Cách bào chế:

Theo kinh nghiệm Việt Nam:

Cưa thành khúc ngắn 5 – 10cm, chẻ nhỏ để sắc.

Theo kinh nghiệm Viện Đông y nấu cao tô mộc:

Cưa thành khúc ngắn 5 – 10cm, chẻ nhỏ (càng nhỏ càng tốt), đổ ngập nước.

Đun sôi 2 giờ, chắt lấy nước, lọc, cô lại. Lấy nước thứ hai, thứ ba làm như trên. Cô chung cho đến độ sền sệt, sấy nhẹ cho khô, tán bột làm viên.

Theo Trung y:

Bỏ vỏ thô và đốt mắt, thái thành phiến mỏng hoặc đẽo ra từng sợi dài mà dùng.

Bảo quản: để nơi khô ráo, cách xa mặt đất, tránh ẩm.