Vị thuốc hương phụ có tác dụng gì? – Cách bào chế, chú ý khi sử dụng

Published on Author Đỗ Sang

Hương phụ có tác dụng làm thuốc điều khí, khai uất, thông kinh. Dùng chữa kinh nguyệt không đều, các chứng trong thai sản, trừ đờm, tiêu thực, giảm đau…

Tên khoa học: Cyperus rotundus.

Nguyên liệu:

Thân rễ (vẫn gọi là củ) của cây hương phụ (cây cỏ gấu, cỏ cú..), củ hình thoi dài 2 – 4cm, đường kính 0,5 – 1cm bề ngoài đỏ thẫm hay đen sẫm, có nhiều đốt, trên đốt có nhiều lông màu nâu hay xám đen.

Dùng loại mọc ở bãi biển, củ to mập, chắc thơm, sạch lông, thịt hồng hồng là tốt.

Thành phần hóa học:

Thành phần hóa học: có tinh dầu 1% (chủ yếu có cyperen 32 – 37%, cyperola 40- 49%), ngoài ra có acid béo, hợp chất có phenolic.

Tác dụng:

Theo đông y:

Tính vị – quy kinh: vị cay, hơi đắng, tính hàn. Vào kinh can, kiêm vào 12 kinh mạch.

Tác dụng: thuốc điều khí, khai uất, thông kinh.

–   Dùng sống: thông khí, trừ đờm.

–   Tẩm sao: vào can thận, điều khí huyết, thông kinh, huyết hư, nhuận táo, hành kinh lạc.

–   Sao cháy: chỉ huyết, bổ hư.

Chủ trị – liều dùng: thông kinh nguyệt không đều, chữa các chứng trong thai sản, trừ đờm, tiêu thực, giảm đau.

Ngày dùng 6 – 12g.

Theo y học hiện đại:

+ Thuốc có tác dụng ức chế tử cung, gần như Đương qui tố nhưng yếu hơn. Tinh dầu có hoạt tính nhẹ của kích thích tố nữ. Vì thế mà Hương phụ thường dùng làm thuốc điều kinh.

+ Cồn chiết xuất Hương phụ có tác dụng kháng viêm, giảm đau và giải nhiệt nhẹ. Có tác dụng an thần đối với trung khu thần kinh.

+ Thuốc có tác dụng cường tim và hạ áp. Cồn chiết xuất Hương phụ có tác dụng ức chế trực tiếp cơ trơn của hồi tràng.

+ Tinh dầu Hương phụ có tác dụng ức chế tụ cầu khuẩn vàng, trực khuẩn lỵ Sonner. Chất chiết xuất thuốc có tác dụng đối với một số nấm.

Vị thuốc hương phụ (củ gấu)
Vị thuốc hương phụ (củ gấu)

Lưu ý:

Chứng âm hư và huyết nhiệt không nên dùng.

Cách bào chế:

Theo kinh nghiệm Việt Nam:

Khi đào về người ta phơi khô rồi sao cho cháy lông và rễ con.

–   Hương phụ mễ (sinh hương phụ): phơi thật khô, giã với trấu (cứ 1kg củ cho vào 0,5kg trấu) bằng chày nhọn đầu cho trụi hết lông, vỏ. Việc làm sạch vỏ và lông đòi hỏi nhiều công, giã không khéo bị nát.

–   Hương phụ thán: lấy hương phụ rửa lại cho sạch, phơi khô, sao cho cháy đen tồn tính, bắc chảo ra lấy vung úp lại cho nguội, có thể tán bột.

–   Hương phụ tứ chế: cách này thường dùng.

Lấy 1kg hương phụ mễ, chia làm 4 phần:

Phần 1: 250g tẩm với 200ml giấm (có độ acid acetic trên dưới 5%).

Phần 2: 250g tẩm với 200ml đồng tiện của trẻ em khỏe mạnh (lấy phần giữa nước tiểu).

Phần 3: 250g tẩm với 200ml nước muối 15%.

Phần 4: 250g tẩm với 200ml rượu 400.

Mỗi phần sau khi tẩm để 1 đêm, sáng hôm sau giã dập, sao khô đến khi thấy mùi thơm là được, trừ phần tẩm rượu thì sao khô giã dập rồi mới tẩm rượu. Để riêng từng phần cho vào lọ kín. Có thể trộn chung 4 phần vào nhau đựng lọ kín. Sau khi tẩm sao, tán bột để làm hoàn tán.

Phần tẩm giấm và tẩm đồng tiện là 2 phần quan trọng nhất, không thể không tẩm hai thứ này được.

Còn tẩm nước gừng, nước cam thảo v.v… tùy theo đơn của lương y.

Theo Trung y:

Rửa sạch mài xác trên đá nhám cho sạch hết vỏ, ngâm vào nước đái trẻ tìm cho thấu mềm, phơi khô, giã nát, hoặc dùng sống hoặc sao, hoặc tẩm giấm hay muối tùy từng trường hợp.

Bảo quản: hương phụ tứ chế không nên bào chế nhiều, chỉ nên dùng đủ trong vòng 15 – 20 ngày. Đậy kín.