Vị thuốc khiên ngưu có tác dụng gì? – Cách bào chế, chú ý khi sử dụng

Published on Author Đỗ Sang

Khiên ngưu có tác dụng: trục đàm, tiêu thủy, trừ thấp nhiệt. Dùng trị đầy trướng, thông tiểu tiện (lợi tiểu), trị lãi (giun)…

Tên khoa học: Semen Pharbitidis.

Nguyên liệu:

Hạt của cây khiên ngưu hay bìm bìm biếc (Pharbitis hederacea). Có hai thứ: trắng (bạch sửu) và đen (hắc sửu). Hạt đen được dùng nhiều hơn. Hạt đen có 3 cạnh, hạt to bằng hạt đậu xanh, vỏ cứng đen, chắc, nhân có màu vàng nhạt, không mọt mốc là tốt. Thứ hạt nhỏ hơn ít dùng.

Thành phần hóa học:

Thành phần hóa học: hoạt chất chính là chất béo (11%), 2% glucosid là phacbitin.

Tác dụng:

Theo đông y:

Tính vị – quy kinh: vị đắng, cay, tính hàn. Vào ba kinh phế, thận và đại trường.

Tác dụng: trục đàm, tiêu thủy, trừ thấp nhiệt.

Chủ trị – liều dùng: trị đầy trướng, thông tiểu tiện (lợi tiểu), trị lãi (giun).

Hạt: Ngày dùng 4 – 8g.

Cao: Ngày dùng 30 – 60g dưới dạng viên.

Rượu: Ngày dùng 8 – 12g.

Nhựa: Ngày dùng 0,016 – 1,2g làm 2 – 3 lần.

Theo y học hiện đại:

Chất pharbitin vào ruột gặp mật và dịch ruột thủy phân thành Khiên ngưu tử tố kích thích ruột làm tăng nhu động gây tẩy xổ. Nước hoặc cồn chiết xuất Khiên ngưu đều có tác dụng gây tiêu chảy ở chuột nhắt, nhưng nước sắc thì không có tác dụng đó.

Khiên ngưu tử làm tăng độ lọc inulin của thận.

Khiên ngưu tử in vitro có tác dụng ức chế giun đũa.

Độc tính của thuốc: đối với chuột, liều LD50 là 37,5kg. Ở người triệu chứng nôn buồn nôn do kích thích trực tiếp lên đường tiêu hóa, liều cao có thể ảnh hưởng đến thận dẫn đến huyết niệu cũng như triệu chứng thần kinh.

Vị thuốc khiên ngưu
Vị thuốc khiên ngưu

Lưu ý:

Phàm khí hư, thấp nhiệt, phụ nữ có thai thì không được dùng.

Cách bào chế:

Theo kinh nghiệm Việt Nam:

–   Dùng sống: phơi khô, khi bốc thuốc thang giã dập hoặc tán mịn làm hoàn tán (tác dụng xổ mạnh).

–   Dùng chín: sao vàng cho thơm (xổ yếu hơn).

–   Nấu cao:

Hạt tán nhỏ   500g

Rượu      2 lít

Nước      4,5 lít

Ngâm hạt vào rượu trong 7 ngày rồi lọc, cô cách thủy cho đến đặc. Bã còn lại ngâm vào nước trong 4 ngày lại lọc, cô cách thủy như trên. Trộn 2 thứ cao lại, cô lại ở 600C cho đến còn 1ml = 2g dược liệu.

Rượu hắc sửu: hạt hắc sửu giã dập 75g. Cho vào bình kín với 4 lít nước, đun với 2 lít rượu như trên. Cất thu hồi rượu cho đến khi còn 1 phần 5, thêm 1 phần nước cất, để yên. Rửa nhựa dưới đáy bình bằng nước đun sôi cho đến khi nước rửa không còn màu. Cô cách thủy cho đến khô kiệt, tán thành bột, đựng lọ kín.

Theo Trung y:

Giã bỏ vỏ, tán nhỏ, rây lấy lớp bột đầu, còn thứ chưa nhỏ bỏ đi; cũng có khi dùng nửa sống, nửa sao (Lý Thời Trân).

Bảo quản: để nơi khô, thoáng gió.