Ngũ linh chi có tác dụng gì? – Cách bào chế, chú ý khi sử dụng

Published on Author Đỗ Sang

Ngũ linh chi dùng chữa kinh nguyệt không đều, thấy kinh đau bụng, đẻ xong huyết xấu không ra hết sinh đau bụng, ngực đau, trẻ con bị cam tích.

Tên khoa học: Faeces Trogopterori hoặc Faeces trogopterum.

Nguyên liệu:

Ngũ linh Chi là phân khô của một loài sóc Trogopterus xanthipes Milne- Edwards thuộc họ Sóc bay (Petauristidae), có nhiều ở Trung quốc tại các tỉnh Hà bắc, Sơn tây, Cam túc, chưa thấy có ở nước ta.

Có tài liệu lại cho rằng ngũ linh chi là phân của giống Dơi (Pteropus psetap Hon Lay, họ dơi Pteropodidae) rất lớn. Thứ màu nâu đen, đóng thành cục, bóng nhuận, không lẫn đất cát, không lẫn tạp chất là tốt. Thứ thành hạt rồi là kém.

Thành phần hóa học:

Thành phần hóa học: chất nhựa, urê, acid uric.

Tác dụng:

Theo đông y:

Tính vị – quy kinh: vị ngọt, tính ôn. Vào kinh can.

Tác dụng: thông lợi huyết mạch, hành ứ, giảm đau; dùng sống để hành huyết chỉ thống (giảm đau), sao đen chỉ huyết (cầm máu).

Chủ trị – liều dùng: đau bụng kinh, băng huyết rong huyết, các chứng bệnh phụ nữ sau khi đẻ, các chứng bệnh cảm trẻ em, dùng trị rắn rết cắn; phụ nữ băng huyết và chứng xích bạch đái không dứt thì sao dùng.

Ngày dùng 6 – 12g.

Theo y học hiện đại:

Thuốc có tác dụng ức chế sự sinh trưởng của vi khuẩn lao, nước thuốc có tác dụng ức chế nhiều loại nấm ngoài da, làm dịu co thắt của cơ trơn.

Vị thuốc ngũ linh chi
Vị thuốc ngũ linh chi

Lưu ý:

Huyết hư, không bị ứ thì không nên dùng.

Cách bào chế:

Theo kinh nghiệm Việt Nam:

+   Có nhiều tạp chất, giã nhỏ hoặc thủy phi: gạn bỏ nước đầu, để lắng lấy cặn.

Phơi khô tán bột (dùng sống).

+   Nhặt bỏ tạp chất rửa đãi thật nhanh, phơi khô tẩm ít rượu để một lúc. Sao khô dùng (mới sao thì mềm, sau rắn lại).

Theo Trung y:

Dùng ngũ linh chi thì nhặt bỏ hết sạn đất, tẩm rượu sao hoặc tẩm giấm sao hoặc để sống dùng tùy từng trường hợp.

Bảo quản: tránh ẩm, tránh nóng, dễ bị mốc; để nơi khô ráo, mát, thoáng.