Vị thuốc phòng kỷ có tác dụng gì? – cách bào chế, chú ý khí sử dụng

Published on Author Đỗ Sang

Phòng kỷ có tác dụng khu phong, trừ thấp, chỉ thống, lợi thủy. Chủ trị chứng phong thấp tý thống, thủy thũng, cước khí phù thũng…

Tên khoa học: Radix Stephaniae Tetrandrae.

Nguyên liệu:

Rễ cái của cây phòng kỷ (Stepphania tetrandra). Rễ cái vàng, chắc, có vân ngang là tốt.

Rễ đen, xốp, có chỗ loét, thái vỡ là xấu.

Ở ta còn dùng rễ cây gấc để thay thế là không đúng.

Thành phần hóa học:

Trong y học hiện đại người ta đã phân tích thành phần hóa học của hán phòng kỷ thấy chủ yếu chứa tetrandrine, fangchinoline, menisine, menisidine, cyclanoline, fanchinine, demethyltetradrine…

Tác dụng:

Theo đông y:

Tính vị – quy kinh: vị rất đắng, cay, tính hàn. Vào kinh bàng quang.

Tác dụng: trừ phong, hành thủy, tả thấp nhiệt ở hạ tiêu.

Chủ trị – liều dùng: trị thủy thũng, cước khí sưng phù, phong thấp, khớp xương sưng nhức, trị nhọt lở.

Ngày dùng 6 – 12g.

Theo y học hiện đại:

  • Với các kết quả nghiên cứu dược lý, nhiều loại alcaloid của hán phòng kỷ có tác dụng hạ áp nhanh. Thuốc có tác dụng làm giãn mạch vành, tăng lưu lượng máu ở mạch vành khiến làm giảm sự tiêu hao ôxy của cơ tim. Thuốc còn có công hiệu chống rối loạn nhịp tim.
  • Chất tetrandrine A & B của thuốc đều có tác dụng chống viêm. Song các tetrandrine này cũng đều có tác dụng giảm đau.
  • Thuốc còn có công hiệu giải nhiệt và chống dị ứng và còn khả năng chống choáng quá mẫn.
  • Thuốc còn có tác dụng làm thư giãn cơ vân.
  • Đặc biệt có tác dụng chống ung thư mà chủ yếu là do phòng kỷ tố A; song phòng kỷ tố A & B đều có tác dụng kháng amip; riêng phòng kỷ tố A có tác dụng ức chế trực khuẩn lỵ Shigella.
Vị thuốc phòng kỷ
Vị thuốc phòng kỷ

Lưu ý:

Âm hư mà không có nhiệt thì không nên dùng.

Cách bào chế:

Theo kinh nghiệm Việt Nam:

Rửa sạch, ngâm một lúc, ủ cho đến mềm thấu, thái mỏng phơi khô. Có thể rửa sạch, thái mỏng ngay rồi phơi khô.

Theo Trung y:

+   Cạo bỏ vỏ ngoài, rửa rượu phơi khô (Lý Thời Trân).

+   Lấy rễ khô ngâm nước một ngày, vớt ra ủ mềm thấu, thái lát phơi khô (dùng sống) hoặc tẩm rượu sao dùng.

Bảo quản: phơi thật khô, để nơi cao ráo.