Quế có tác dụng gì? – Cách bào chế, chú ý khi sử dụng

Published on Author Đỗ Sang

Quế dùng chữa bệnh do lạnh như tay lạnh, đau bụng trúng thực, phong tê bại, ỉa chảy. Còn dùng cho phụ nữ khó thai nghén.  

Tên khoa học: Cinnamomum loureiri, Cinnamomum obtusifolium Nees. và một số loài khác (Cinnamomum cassia Blume, Cinnamomum zeylanicum Breyn.)…, họ Long não (Lauraceae).

Nguyên liệu:

Vỏ của cây quế.

–   Việt Nam ta có nhiều loại quế: nổi tiếng nhất là quế Thanh (Thanh Hóa, C.loureiri Nees) rồi đến quế Quy.

–   Vỏ bóc ở một cây phân chia ra nhiều loại tốt xấu khác nhau và tác dụng khác nhau.

+   Quế hạ bản: lấy ở phần dưới thân.

Thứ này hay giáng xuống mà ít bốc lên.

+   Quế trung châu: lấy ở phần giữa thân cây.

+   Quế thượng biểu: lấy ở phần trên cây.

Hai thứ này có tác dụng bốc lên.

+   Quế chi: lấy ở cành cây, quế chi tiêm lấy ở ngọn cành.

Thứ này đi ra ngoài thân và chân tay.

Nhưng nói chung quế khô, có mùi thơm, có chất dầu, vị cay hơi ngọt, vỏ hơi nâu, không vụn nát ẩm là tốt.

Thành phần hóa học:

Thành phần hóa học: có tinh bột, chất nhầy, tanin, chất màu, đường, có tinh dầu 1 – 5% (chủ yếu là aldehydcinnamic 95%).

Tác dụng:

Theo đông y:

Tính vị – quy kinh: vị ngọt, cay, tính đại nhiệt. Vào hai kinh can và thận.

Chủ trị – liều dùng: trị chân tay lạnh, tả lỵ, đau bụng, bế kinh, tiêu hóa, kiện vị, cảm lạnh, sốt không ra mồ hôi.

Tinh dầu thường được cất từ dư phẩm khi chế biến, dùng làm thuốc và trong kỹ nghệ hương liệu.

Theo y học hiện đại:

  • Trên súc vật thực nghiệm, thuốc mà chủ yếu là cinnamaldehyde có tác dụng ức chế trung khu thần kinh, an thần, giảm đau và giải nhiệt. Cinnamaldehyte còn có tác dụng làm giảm co giật và tử vong đối với súc vật do tiêm quá liều strychnine.
  • Dầu vỏ quế là thuốc thơm kiện vị trừ phong, có tác dụng kích thích nhẹ dạ dày và ruột. Thuốc có tác dụng tăng tiết nước bọt và dịch vị tăng cường chức năng tiêu hóa, làm giảm co thắt cơ trơn nội tạng, làm dịu cơn đau bụng do co thắt ruột. Cinnamaldehyt còn có tác dụng ức chế sự hình thành loét bao tử ở chuột do kích thích.
  • Tác dụng lên hệ tim mạch: nước sắc quế làm tăng lưu lượng máu động mạch vành tim cô lập của chuột lang, cải thiện được thiếu máu cơ tim cấp của thỏ do pituitrin gây nên.
  • Tác dụng kháng khuẩn: trên ống nghiệm, thuốc có tác dụng ức chế mạnh đối với nhiều loại vi khuẩn gram(+), mạnh hơn đối với gram (-), ức chế cả đối với nấm gây bệnh.
Vị thuốc từ cây quế
Vị thuốc từ cây quế

Lưu ý:

Không phải hư hàn không nên dùng.

Cách bào chế:

Theo kinh nghiệm Việt Nam:

Đối với quế thật tốt, chỉ mài trong bát sành với ít nước đun sôi để nguội, hoặc với ít nước thuốc thang để uống.

Làm nước hãm: cạo bỏ bì thô, gọt thành miếng mỏng; tấm nước đồng tiện 1 – 2 ngày đêm (để giáng hỏa vì nóng quá xông lên hại mắt). Cho miếng dược liệu đã tẩm nước đồng tiện vào cái chén có nắp, đổ nước sôi vào rồi rót ngay ra bỏ đi, cho một ít nước sôi khác vào lần này để ngấm nguội rồi mới lấy ra uống, uống lần sau pha với nước sôi khác mà dùng. Một lượt như thế có thể pha 2-3 lần.

Theo Trung y:

Gọt sạch bì thô. Với thuốc thang thì mài với nước thuốc, làm thuốc hoàn tán thì tán bột.

Bảo quản: để tránh mất hương vị, trát sáp mật ong vào hai đầu thanh quế, dùng giấy bóng kính gói kỹ, đựng vào thùng kín. Để nơi khô ráo, kín, mát, tránh nơi ẩm.