Vị thuốc sa nhân có tác dụng gì? – Cách bào chế, chú ý khi sử dụng

Published on Author Đỗ Sang

sa nhân dùng điều trị ăn không tiêu, đi tả, đau bụng; đại tiện ra huyết, báng huyết, nhức răng, trị thủy thũng.

Tên khoa học: Amomum xanthioides.

Nguyên liệu:

Bộ phận dùng: hạt của quả. Quả khô, có nhiều hạt, nâu sẫm mùi thơm nồng.

–   Sa nhân hạt cau, hạt to mẩy, không nhăn nheo, cay nhiều nồng, là loại tốt nhất.

–   Sa nhân non (do hái sớm quá, chưa già), hạt không mẩy, có vết nhăn, ít cay là hạng vừa.

–   Sa nhân vụn, kém cay là hạng xấu.

–   Sa nhân đường (do hái muộn nên quả chín quá), hạt ẩm hơi dính, ngọt, bóp mềm, đen, không dùng.

–   Vỏ quả sa nhân cũng dùng làm thuốc gọi là súc bì.

Thành phần hóa học:

Thành phần hóa học: có tinh dầu 2 – 3% (chủ yếu là d-bocneola – và d- campho). Ngoài ra còn có chất nhựa và chất béo.

Tác dụng:

Theo đông y:

Tính vị – quy kinh: vị cay, tính ôn. Vào ba kinh thận, tỳ và vị; kiêm vào phế, đại trường và tâm bào.

Tác dụng: hành khí, chỉ đau, kích thích tiêu hóa.

Chủ trị – liều dùng: ăn không tiêu, đi tả, đau bụng; đại tiện ra huyết, báng huyết, nhức răng, trị thủy thũng.

Ngày dùng 3 – 6g.

Theo y học hiện đại:

Nước sắc Sa nhân với nồng độ thấp có tác dụng hưng phấn đối với ruột cô lập chuột lang nhưng với nồng độ cao lại có tác dụng ức chế. Qua kết quả thực nghiệm thấy 3 loại Sa nhân tỉnh Phúc kiến thường dùng Súc sa, Xuân sa và Hoa sơn khương đều có tác dụng làm giảm tính hưng phấn co thắt của ruột, cũng giải thích được tác dụng hành khí tiêu đầy, chống co thắt làm giảm đau của thuốc.

Vị thuốc sa nhân
Vị thuốc sa nhân

Lưu ý:

Âm hư và thực nhiệt thì không nên dùng.

Cách bào chế:

Theo kinh nghiệm Việt Nam:

Để cả vỏ sao vàng (ăn không tiêu, trướng đầy).

Bỏ vỏ lấy hạt sao hơi sém cạnh (trị thủy thũng).

Theo Trung y:

Sao qua, xát bỏ vỏ mỏng, giã dập dùng hoặc để cả vỏ sao đen dùng.

Bảo quản: cần để nơi khô ráo, thoáng gió, tránh ẩm nóng làm hỏng mất tinh dầu thơm.