Vị thuốc sinh địa có tác dụng gì? – Cách bào chế, chú ý khi sử dụng

Published on Author Đỗ Sang

Sinh địa dùng làm thuốc chữa ho ra máu, đỏ máu cam, băng huyết, lậu huyết, tiểu ra máu, tiểu đường, tâm thần không yên, mất ngủ. 

Tên khoa học: Rehmannia glutinosa.

Nguyên liệu:

Thân rễ (vẫn gọi là củ) của cây địa hoàng . Chọn củ to mập, vỏ vàng mỏng, mềm, cắt ngang có màu đen nhánh, nhiều nhựa không thối nát là tốt.

Loại to mỗi cân được 16 – 30 củ, loại nhỏ 40 – 60 củ.

Thành phần hóa học:

Thành phần hóa học: có manit, rehmanin, chất đường và caroten.

Tác dụng:

Theo đông y:

Tính vị – quy kinh: sinh địa (địa hoàng) còn tươi mát, đắng.

Sinh địa đã chế biến: mát, hơi đắng, ngọt, tính hàn. Vào ba kinh tâm, can và thận.

Tác dụng: bổ chân âm, thanh hỏa, mát huyết nhiệt.

Chủ trị – liều dùng: trị lao thương, hư tổn, ứ huyết, đái ra huyết, bổ ngũ tạng, thông huyết mạch, thêm khí lực, sáng tai mắt.

Ngày dùng 12 – 64g.

Theo y học hiện đại:

1.Chống viêm: Trên thực nghiệm, nước sắc Sinh địa có tác dụng chống viêm.

2.Tác dụng hạ đường huyết rõ rệt trên súc vật: thực nghiệm có đường huyết cao, cũng có thể làm cho đường huyết bình thường của thỏ hạ thấp,

3.Thuốc có tác dụng cường tim, hạ áp, cầm máu, bảo vệ gan, lợi tiểu, chống phóng xạ, chống nấm.

4.Thuốc có tác dụng ức chế miễn dịch kiểu cocticoit nhưng không làm ức chế hoặc teo tuyến thượng thận. Thực nghiệm đã chứng minh Sinh địa và Thục địa có thể làm giảm tác dụng ức chế chức năng vỏ tuyến thượng thận của cocticoit.

Vị thuốc sinh địa
Vị thuốc sinh địa

Lưu ý:

Không dùng cho người tỳ vị hư hàn và thấp nhiệt.

–   Khi đào rễ củ về thì không được rửa nước, không đào lúc trời mưa.

–   Củ nhỏ bé quá, vứt đi lãng phí, dùng để trồng thì không tốt nên đem sấy để riêng, sau này nấu thành nước sắc đặc tẩm vào thục địa càng tốt.

Cách bào chế:

Theo kinh nghiệm Việt Nam: có 3 giai đoạn;

Sấy lần 1: rễ củ đào về không bị sứt mẻ, không rửa nước, chọn riêng thành 4 loại to, nhỏ, rải riêng từng loại cho vào lò sấy, thứ to để dưới, thứ nhỏ để trên, ngày đầu sấy nhẹ lửa 35 – 400 cho se vỏ ngoài, ngày thứ hai và những ngày sau giữ nhiệt độ 50 – 600, hàng ngày trăn trở luôn cho khô đều, trong 6 – 7 ngày; thấy củ nào mềm dẻo như cao su thì bóp nắn cho mềm (thịt đã đen lại) để ra ngoài, củ nào còn rắn cứng thì tiếp tục sấy cho đến khi mềm mới thôi.

Ủ: các loại củ đã mềm rồi, rải mỏng tất cả ra sàn nhà, nơi khô ráo, thoáng gió trong 5 – 6 ngày, rồi xếp lại lấy bao bố tời ủ lên. Hai, ba ngày sau, giở ra xem thấy vỏ ngoài ngả màu xám, có lên meo mốc trắng, bẻ ra, trong có tiết ra một chất nhựa đen: lấy thử vài củ vê sẽ giữa hai ngón tay, thấy mềm như chuối chín là được.

Sấy lần 2: ủ được rồi đem sấy lại lần nữa ở nhiệt độ 40 – 500 khi vỏ ngoài khô độ 80% là được.

Phẩm chất: sinh địa khô, vỏ xám đen, thịt đen, giữa củ hơi vàng là tốt.

Theo Trung y:

Lấy 10kg sinh địa tươi, chọn riêng củ to béo độ 6kg (600 gam mà được 4-6 củ là thứ tốt), rửa sạch, phơi nắng cho se vỏ lại; còn 4kg loại bé nhỏ vụn thì cũng rửa sạch cho vào cối giã nát, đổ vào 300ml rượu ta, lại giã, vắt lấy nước tẩm vào 6kg trên, phơi sấy hoặc sấy khô (Lý Thời Trân).

Khi dùng sinh địa thì ủ một ngày, dùng dao đồng thái lát mỏng, phơi khô.

Bảo quản: dùng để nấu ngay thành thục địa thì không cần bảo quản, nhưng muốn để lâu phải bảo quản cho tốt.

Lấy đất phù sa hay đất sét khô tán nhỏ mịn, rây qua, đổ vào cái nong rồi cho các củ sinh địa vào chà lăn cho đều, bóp nắn cho tròn củ, đừng để củ dài dễ gãy, cho vào thùng đậy kín.