Vị thuốc sơn đậu căn có tác dụng gì? – Cách bào chế, chú ý khí sử dụng

Published on Author Đỗ Sang

Sơn đậu căn có tác dụng thanh nhiệt giải độc, tiêu thũng, lợi hầu họng, dùng trị các bệnh sốt do viêm nhiễm đường hô hấp, viêm amidan…

Tên khoa học: Pophora subprosrlata.

Nguyên liệu:

Rễ của cây sơn đậu căn. Rễ to bằng ngón tay cái, xám nâu, trong trắng, vị rất đắng, không mốc mọt là tốt. Hay nhầm với rễ cây đậu căn (Cajanus indicus spreng, họ đậu).

Thành phần hóa học:

Thành phần hóa học: chứa alcaloid, flavonoid…; matrin, oxymatrin, anagynin, methylcytisin. Ngoài ra còn có pterocarpin, sophoranon…

Tác dụng:

Theo đông y:

Tính vị – quy kinh: vị đắng, tính hàn. Vào 3 kinh tâm, phế và đại trường.

Tác dụng: thanh nhiệt, giải độc, tả tâm hỏa, trừ phong nhiệt.

Chủ trị – liều dùng:

Dùng trị các bệnh sốt do viêm nhiễm đường hô hấp, viêm amidan, viêm họng, các bệnh mụn nhọt, đặc biệt nhọt độc, phù thũng, răng lợi sưng đau; còn dùng trị kiết lỵ, dùng ngoài trị côn trùng, rắn, rết cắn.

Ngày dùng 6 – 12g.

  • Ở Thái Lan và Việt Nam, nước sắc lá dùng uống để làm cho dễ sinh đẻ.
  • Ở Malaixia, người ta dùng hạt có vị đắng làm thuốc trị các bệnh về ngực và như là thuốc chống độc và bổ.
  • Ở Inđônêxia, cây được dùng làm thuốc diệt côn trùng.
  • Ở Vân Nam (Trung Quốc), rễ được dùng trị viêm ruột, ỉa chảy, đầy bụng, đau dạ dày, đau hầu họng.

Theo y học hiện đại:

Chưa rõ.

Vị thuốc sơn đậu căn
Vị thuốc sơn đậu căn

Lưu ý:

Tỳ vị hư hàn, đại tiện lỏng thì không nên dùng.

Cách bào chế:

Theo kinh nghiệm Việt Nam:

Rửa sạch, ủ mềm 4 – 5 ngày, thái lát mỏng 1 – 2 ly. Còn có thể ngậm vào miệng hoặc mài ra uống.

Theo Trung y:

Lấy rễ khô ngâm nước 4 – 5 ngày, rửa sạch, bỏ hết tạp chất, rễ nhỏ cắt khúc, rễ to chẻ đôi, ủ độ 4 – 5 ngày cho mềm, thái lát mỏng 1 – 2 ly phơi khô. Rễ to, nhỏ trộn lẫn với nhau mà dùng.

Bảo quản: để nơi khô ráo.