Vị thuốc thạch xương bồ có tác dụng gì? – Cách bào chế, chú ý khi sử dụng

Published on Author Đỗ Sang

Thạch xương bồ có tác dụng chữa hồi hộp, khó thở, co giật, ho, ngực bụng đầy tức, ăn không ngon, đau nhức do phong thấp.

Tên khoa học: Rhizoma Acori Graminei.

Nguyên liệu:

Rễ của cây thạch xương bồ (Acorus gramineus)

Dùng rễ cái to, không dùng rễ con. Thứ khô, da màu nâu, mắt dày, ngắn gióng, rắn, thơm, thịt hồng hồng, không mốc mọt, vụn nát là tốt. Đen không thơm là xấu.

Ta thường dùng cả thủy xương bồ (Acous calamus cùng họ) có nhiều; thạch xương bồ hiếm, cây bé hơn thủy xương bồ.

Thành phần hóa học:

Thành phần hóa học: hai cây đều có tinh dầu (chủ yếu là asaron); thủy xương bồ còn có acorin và tanin.

Tác dụng:

Theo đông y:

Tính vị – quy kinh: vị cay, tính ôn. Vào hai kinh tâm và can.

Tác dụng: thông khiếu, thông khí, trục đờm, giải độc, sát trùng.

Chủ trị – liều dùng: trị kinh giản, đờm nghịch lên, phong hàn tê thấp, đắp ngoài trị nhọt, lở.

Ngày dùng 4 – 12g.

Theo y học hiện đại:

  • Thuốc sắc, thuốc sắc khử dầu đều có tác dụng an thần, tinh dầu có tác dụng gây ngủ. Thuốc sắc còn có tác dụng chống co giật. Dầu bay hơi của Thạch xương bồ làm giảm vận động của chuột và làm giảm tác dụng kích thích của Ephedrin đối với hệ thần kinh trung ương. Thuốc sắc làm kéo dài tác dụng của thuốc barbiturate.
  • Thuốc sắc và tinh dầu của thuốc đều có tác dụng làm giảm co thắt của cơ trơn dạ dày và ruột và làm tăng tiết đường tiêu hóa.
  • Nước sắc của thuốc hạ chế sự lên men quá mạnh của đường tiêu hóa.
  • Tinh dầu của thuốc có tác dụng hạ nhiệt đối với chuột trắng thí nghiệm.
  • Dịch chiết xuất nồng độ cao của thuốc có tác dụng ức chế nấm gây bệnh ngoài da.
  • Độc tính: liều lượng lớn của thuốc gây co giật ở chuột và dẫn đến chết.
Vị thuốc thạch xương bồ
Vị thuốc thạch xương bồ

Lưu ý:

Âm hư, huyết hư kém, hoạt tinh, nhiều mồ hôi không nên dùng.

Cách bào chế:

Theo kinh nghiệm Việt Nam:

Nếu còn đất, rửa sạch, ủ một đêm, bào, phơi khô.

Theo Trung y:

Không dùng thứ “nê xương” hoặc “hạ xương” rễ như rễ tre, màu đen, vị tanh. Chi dùng thứ mọc ở trên đá, rễ non vàng nhạt, một tấc có chín đốt là đúng và tốt (cửu tiết xương bồ). Cạo bỏ vỏ, lấy cành dâu trộn lẫn đồ chín, thái lát phơi khô (Lôi Công).

Rửa sạch, ủ mềm thái lát dùng hoặc sao qua.

Bảo quản: để nơi khô ráo, tránh ẩm, tránh nóng vì dễ mốc.