Vị thuốc thanh đại có tác dụng gì? – Cách bào chế, chú ý khi sử dụng

Published on Author Đỗ Sang

Thanh đại có tác dụng thanh nhiệt giải độc, tán phù, lương huyết. Chủ trị các chứng: Can nhiệt kinh giật, nhiệt khái đờm đặc, thấp chẩn, lở mồm, huyết nhiệt phát ban, chảy máu cam, quai bị, ung nhọt.

Tên khoa học: Indigo pulverata levis.

Thanh đại (Indigo pulverata levis) còn gọi là Bột chàm được chế từ nhiều cây khác nhau, chủ yếu là các cây:

Cây chàm (Indigofera tinotoria L) thuộc họ Cánh bướm (Fabaceae).

Nghệ chàm (Polygonum tinctorium Lour) họ Rau răm (Polygonaceae).

Cây Chàm (Strobilanthes cusia Bremek) hay Strobilanthes flaceidifolius Ness) còn gọi là cây Chàm mèo thuộc họ Ô rô (Acanthaceae).

Một số cây khác chưa thấy ở nước ta như: cây Isatis tinctoria L. thuộc họ Chữ thập (Brassicaceae) và cây Isatis Indigotica Fort thuộc họ Chữ thập (Brassicaceae).

Nguyên liệu:

Vị thuốc thanh đại là bột chàm chế từ lá cây chàm nhuộm.

Bột khô, mịn, xanh da trời, trong, bóng không lẫn tạp chất là tốt.

Có người làm giả bằng một chất hóa học.

Bột chàm thật cho vào tay xát thì mát; còn thứ giả không mát, không trơn.

Thành phần hóa học:

Thành phần hóa học: lá chứa chất indigo.

Tác dụng:

Theo đông y:

Tính vị – quy kinh: vị mặn, tính hàn. Vào kinh can và phế.

Tác dụng: tả can, tán uất hỏa, lương huyết, giải độc, tiêu sưng tấy, dùng làm thuốc giải độc.

Chủ trị – liều dùng: trị kinh giản, cảm nhiệt, bệnh sốt phát ban, thổ huyết, dùng ngoài trị miệng lưỡi sinh lở, ung nhọt và rắn cắn hoặc sâu độc cắn.

Ngày dùng 2 – 3g.

Theo y học hiện đại:

1- Theo sách Dược lý học của Trung quốc: Thanh đại có 2 chất chính là: Điện lam 5 – 8% và Điện ngọc hồng 0,1%. Điện ngọc hồng (đã chế được bằng phương pháp nhân tạo) có tác dụng ức chế mạnh tế bào ung thư.

2-Nước sắc Thanh đại có tính kháng khuẩn đối với tụ cầu khuẩn vàng, trực khuẩn lỵ Shigella, phẩy khuẩn tả.

3-Điện lam có tác dụng bảo vệ gan.

Vị thuốc thanh đại
Vị thuốc thanh đại

Lưu ý:

Bệnh trúng hàn và không có thực nhiệt đều kiêng dùng.

Cách bào chế:

Theo kinh nghiệm Việt Nam:

Thủy phi, bỏ phần nhẹ nổi ở trên, bỏ cả phần nặng nằm dưới, chỉ lấy phần ở giữa. Để lắng, gạn lấy cặn, phơi khô tán bột dùng.

Theo Trung y:

Dùng thanh đại vào thuốc uống trong thì phải đánh tan vào trong nước rồi chắt lấy thứ nước trong ở trên, bỏ thứ lắng đọng ở dưới, đó là chất vôi đá, nhiều quá thì độc. Nếu dùng vào thuốc chữa ngoài thì không cần phải thủy phi.

Bảo quản: nên giữ ở bình đậy kín cho khỏi ẩm mốc, tránh ánh sáng.