Vị thuốc thảo quả có tác dụng gì? – Cách bào chế, chú ý khi sử dụng

Published on Author Đỗ Sang

Thảo quả dùng chữa đau bụng đầy chướng, ngực đau, ỉa chảy, ho có nhiều đờm, đờm đặc gây khó thở. Cất tinh dầu làm hương liệu. Làm gia vị.

Tên khoa học: Amomum tsao-ko.

Nguyên liệu:

Quả (cả vỏ và hạt) của cây thảo quả. Quả già, khô, nguyên vỏ màu nâu, nhân có nhiều hạt chắc, nhiều tinh dầu thơm, vị cay gắt, không mốc mọt là tốt.

Thành phần hóa học:

Thảo quả có tinh dầu chừng 1 – 3%. Tinh dầu màu vàng nhạt, mùi thơm ngọt, vị nóng cay dễ chịu. Nguyễn Xuân Dũng và cộng sự (1989) đã nghiên cứu thấy trong tinh dầu có thành phần chủ yếu: 1-8 cineol (30,61%), trans-2 undecanal (17,33%), citral B (geranial) (10,57%), terpineol (4,34%).

Tác dụng:

Theo đông y:

Tính vị – quy kinh: vị cay, ngọt, tính ấm. Vào hai kinh tỳ và vị.

Tác dụng: táo thấp, trừ hàn, trục đờm; làm thuốc giải độc, mạnh dạ dày, ấm trung tiêu.

Chủ trị – liều dùng: hợp với binh lang, thường sơn để trị sốt rét cơn.

Trị đau bụng, nôn mửa, trừ hôi miệng, giúp sự tiêu hóa.

Ngày dùng 6 – 12g.

Theo y học hiện đại:

Nước sắc 0,25 – 0,75% của Thảo quả có tác dụng hưng phấn ruột cô lập của súc vật thí nghiệm (guinea-pig).

Vị thuốc thảo quả
Vị thuốc thảo quả

Lưu ý: không.

Cách bào chế:

Theo kinh nghiệm Việt Nam:

Lùi quả vào tro nóng già, cháy sém vỏ là được hoặc sao cháy vỏ mang ra đập bỏ vỏ (dùng vỏ thì bị đầy) lấy nhân, giã dập, cho vào thuốc thang.

Theo Trung y:

Lấy bột gạo (hoặc cám nếp) trộn với nước cho dẻo, bọc kín thảo quả, nướng chín bỏ vỏ ngoài lấy nhân (Lý Thời Trân).

Bảo quản: dễ mốc nên phải để nơi kín, khô ráo, tránh quá nóng để giữ tinh dầu. Nếu chớm mốc thì phơi sấy nhẹ.