Thục địa có tác dụng gì? – Cách bào chế, chú ý khí sử dụng

Published on Author Đỗ Sang

Thục địa có tác dụng dưỡng huyết tư âm, bổ tinh ích tủy. Dùng làm thuốc bỏ huyết, điều kinh, chữa thận suy, chóng mặt, ù tai, râu tóc bạc sớm…

Tên khoa học: Rehmannia glutinosa.

Nguyên liệu:

Củ của cây địa hoàng. Chọn củ sinh địa khô, vỏ mỏng, xám đen, thịt đen ánh vàng, mềm, mịn, nhiều nhựa, củ càng to càng tốt để chế ra thục địa.

Thành phần hóa học:

Thành phần hóa học: có manit, rehmanin, chất đường.

Tác dụng:

Theo đông y:

Tính vị – quy kinh: vị ngọt, tính hơi ôn. Vào ba kinh tâm, can và thận.

Tác dụng: tư âm dưỡng huyết, thông thận, tráng thủy.

Chủ trị – liều dùng: âm hư, huyết suy, hư lao, thất thương, dùng phối hợp với mạch môn thì đại bổ tinh huyết.

Ngày dùng 12 – 64g.

Theo y học hiện đại:

  • Nước sắc Đại hoàng có tác dụng kháng viêm. Đối với chuột cống, thực nghiệm gây sưng tấy bằng Formalin vùng chân đùi, thuốc làm giảm sưng rõ.
  • Địa hoàng làm hạ đường huyết. Cũng có báo cáo nói Địa hoàng làm tăng cao đường huyết của chuột cống hoặc không ảnh hưởng đến đường huyết bình thường của thỏ.
  • Thuốc có tác dụng cường tim, hạ áp, cầm máu, bảo vệ gan, lợi tiểu, chống chất phóng xạ, chống nấm.
  • Thuốc có tác dụng ức chế miễn dịch kiểu cocticoit nhưng không làm ức chế hoặc teo vỏ thượng thận. Thực nghiệm đã chứng minh Sinh địa và Thục địa đều có thể làm giảm tác dụng ức chế chức năng vỏ tuyến thượng thận của cocticoit.
Vị thuốc thục địa
Vị thuốc thục địa

Lưu ý:

Kỵ sắt.

Cách bào chế:

Theo kinh nghiệm Việt Nam:

–   Lấy 10kg sinh địa rửa sạch đất, để ráo nước, lấy 5 lít nước cho 300g bột sa nhân vào nấu cho cạn còn 4,5 lít. Lấy nước sa nhân tẩm củ sinh địa, rồi xếp vào khạp hay thùng men, nấu trực tiếp với nước sa nhân còn lại, cho thêm độ 100g gừng tươi giã nhỏ và nước sôi cho đủ ngập hết các củ; nấu trong 2 ngày đêm cho chín, nước cạn đến đâu thấm nước sôi vào cho đủ mực nước cũ, nấu cho kỹ; nếu nấu dối sau này có nấu lại củ cũng không mềm được. Khi nấu phải đảo luôn, lúc cuối cùng thì để cho cạn, còn 1/2 mực nước cũ thì vớt củ sinh địa ra, phơi cho ráo nước. Lấy nước nấu (cứ 1 lít thì thêm 1/2 lít rượu) tẩm bóp rồi đồ 3 giờ đem phơi. Làm nhiều lần như vậy đến khi hết nước nấu thì thôi. Làm được 9 lần tẩm và đồ phơi thì càng tốt (cách này thông thường).

Nếu nửa chừng hết nước thục thì lấy ít rượu tẩm rồi đồ, phơi cũng được.

–   Lấy 10kg sinh địa, rửa sạch kỹ, ủ hai ngày đêm. Lấy 5 lít rượu có ngâm với 100g bột sa nhân (trong 5 – 7 ngày) tẩm bóp vào củ sinh địa cho thấu, cho rượu còn lại và củ sinh địa vào trong cái hũ hay thùng tráng men dậy kín rồi nấu cách thủy trong 3 ngày đêm. Rải phơi trong cái nia thưa, lấy vải phin đậy kín (tránh ruồi nhặng). Chiều tối, lấy nước thục đã thêm 1/2 phần rượu mà tẩm bóp. Hôm sau đồ lại trong 3 giờ rồi đem phơi. Công việc tẩm, đồ phơi làm cho đến khi hết nước thục thì thôi, nếu làm được 9 lần (cửu chưng, cửu sái) thì càng tốt.

Phẩm chất:

Thục địa thịt chắc, màu đen huyền, mềm, không dính tay, thớ dai là tốt. Thục nhỏ đã nắm lại, khi xé ra tuy mịn nhưng không có thớ, không có tiết đen.

Theo Trung y:

Chọn 10kg sinh địa tốt, to (4 – 6 củ nặng độ 600g) là tốt nhất; dùng rượu sa nhân (700g sa nhân ngâm trong 10 lít rượu đế), tẩm cho thấm một đêm, xếp vào nồi chõ đồ cho thật kỹ (độ một ngày đêm) rồi mang phơi nắng. Đang nóng lại tẩm đồ, phơi như trên. Làm như vậy 9 lần là được.

Rửa sạch, cạo vò, tẩm rượu 1 ngày đêm, đồ phơi, lại tẩm, làm như vậy 5-6 lần là được.

Bảo quản: đựng trong thùng kín, tránh sâu bọ. Khi dùng thái lát mỏng, hoặc nấu thành cao đặc hay đập bẹp sấy khô với các thuốc khác để làm hoàn tán.