Vị thuốc xạ can có tác dụng gì? – Cách bào chế, chú ý khi sử dụng

Published on Author Đỗ Sang

Xạ can có tác dụng kháng khuẩn, tiêu viêm, tiêu đờm. Chữa ho, ho gà, viêm họng, khản tiếng, viêm amidan. Chữa sốt, thống kinh, bí đại tiểu tiện, sưng vú, tắc tia sữa, đau nhức tai, rắn cắn.

Tên khoa học: Belamcanda sinensis.

Nguyên liệu:

Thân rễ (vẫn gọi là củ) của cây rẻ quạt (xạ can). Rễ cong queo có đốt, ngắn, to, khô, sạch rễ con, sắc vàng nhạt hoặc vàng nâu; ruột trắng, thơm, rắn. Thứ vụn nát, mốc, thâm đen, xốp, mọt là xấu.

Thành phần hóa học:

Thành phần hóa học: chứa belamcandin, tectoridin, iridin v.v… đều có tính chất glucosid.

Tác dụng:

Theo đông y:

Tính vị – qui kinh: vị đắng, tính hàn. Vào hai kinh can và phế.

Tác dụng: thanh hỏa, giải độc, tán huyết, tiêu đàm.

Chủ trị – liều dùng: trị viêm yết hầu, ho, đàm tắc, trị sốt rét.

Ngày dùng 3 – 6g.

Theo y học hiện đại:

Nhiều nghiên cứu trên thực nghiệm cho thấy một số tác dụng của xạ can như:

+ Tác dụng chống nấm và virus: Chích liều cao dung dịch Xạ can, in vitro thấy có tác dụng ức chế nhiều loại nấm da. Thuốc cũng có tác dụng chống virus hô hấp (Trung Dược Học).

+ Tác dụng đối với nội tiết: Dịch chiết và cồn chiết xuất Xạ Can cho uống hoặc chích đều có kết quả làm tăng tiết nước miếng. Thuốc chích có tác dụng nhanh và dài hơn (Trung Dược Học).

+ Tác dụng giải nhiệt: Cho chuột đang sốt cao uống nước sắc Xạ can, thấy có tác dụng giải nhiệt (Ngô Trạch Phương, Trung Dược Dược Lý Dữ Lâm Sàng 1990, 6 (6): 28).

+ Tác dụng kháng viêm (Fukuyama Y và cộng sự, Chem Pharm Bull 1991, 39 (7): 1877).

+ Tác dụng khứ đờm: cho chuột nhắt uống nước sắc Xạ can, thấy hô hấp tăng, tống đờm ra mạnh hơn (Ngô Trạch Phương, Trung Dược Dược Lý Dữ Lâm Sàng 1985, (1): 153).

+ Tác dụng kháng vi sinh: Nước sắc Xạ can có tác dụng ức chế Bồ đào cầu khuẩn,, Liên cầu khuẩn, khuẩn bạch hầu, khuẩn thương hàn quách Võ Phi, Trung Hoa Y Học Tạp Chí 1952, 38 (4): 315).

Vị thuốc xạ can
Vị thuốc xạ can

Lưu ý:

Tỳ vị hư hàn không nên dùng.

Cách bào chế:

Theo kinh nghiệm Việt Nam:

Dùng tươi: rửa sạch, giã với ít muối để ngậm (trị đau cổ).

Dùng khô: mài thành bột trong nắp siêu, uống với nước tiểu trẻ em khỏe mạnh dưới 3 tuổi.

Rửa sạch, ủ mềm đều, bào mỏng phơi khô.

Theo Trung y:

Hái lấy củ, ngâm nước vo gạo một đêm, vớt ra; nấu với lá tre độ 3 giờ, phơi khô dùng.

Bảo quản: cho vào thùng kín, tránh ẩm mọt mốc, để nơi cao ráo.